- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 225/2022/HS-ST Ngày 29/09/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đông
2. Bà Nguyễn Thu Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đinh Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 205/2022/HS-ST ngày 15/9/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/QĐXX-ST ngày 15/9/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Viết T (tên gọi khác: Không), giới tính: Nam; sinh năm 1988 tại tỉnh Nam Định; ĐKNKTT: xóm 3, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi bị bắt: Số 14 ngõ 235 phố Y, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lùng Minh Q; Con bà: Nguyễn Thị B; bị cáo có vợ là Võ Thị T1 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: 02 tiền án: Ngày 13/11/2018 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (ra trại ngày 05/11/2019) ; Ngày 23/12/2020 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (ra trại ngày 20/2/2022); Nhân thân: Ngày 19/12/2013 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Danh chỉ bản số 242 lập ngày 16/06/2022; Bị cáo đầu thú ngày 08/6/2022; tạm giữ ngày 09/6/2022; tạm giam ngày 18/6/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: Cháu Lê Nhật M, sinh năm 2007
Người giám hộ cho cháu Minh là bố đẻ: Ông Lê Quang H, sinh năm 1979
Cùng trú tại: Số 29 ngách 106/1 phố C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/6/2022 Nguyễn Viết T đến ở cùng anh họ là Phan Văn H1 (sinh năm 1988; HKTT: xóm Q, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; hiện ở: Số 14 ngách 23 ngõ 235 phố Y, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội). Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/6/2022 do không có tiền chi tiêu cá nhân, T mượn xe máy Honda Dream BKS: 29F4-7059 của anh H1 mục đích để đi xung quanh các khu dân cư, xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/6/2022 T đi đến trước cửa số nhà 204 đường Hoàng Ngân, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội quan sát thấy cửa nhà mở không có người trông coi. T dừng xe máy, quan sát trước cửa nhà rồi đi bộ vào bên trong. Khi đi đến chỗ để đạp, T dùng hai tay nhấc 01 chiếc xe đạp địa hình màu hồng nhãn hiệu LIV-2020 ALIGHT2 rồi mang ra ngoài đặt ngang lên yên xe rồi đi về hướng đường giao nhau với đường Lê Văn Lương. Khi T đi đến đầu ngõ 114 đường Hoàng Ngân thì gặp tổ công tác công an phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy đang làm nhiệm vụ tuần tra, nhìn thấy T có biểu hiện nghi vấn, T chở chiếc xe đạp bị khóa bánh sau. Tổ công tác đã áp sát vào xe của T. Thấy vậy, T bỏ lại xe máy và chiếc xe đạp chạy bộ vào trong ngõ 114 đường Hoàng Ngân. Khi T chạy đến đoạn đường trước cửa số nhà 32 nghĩ hành vi trộm cắp tài sản của mình đã bị phát hiện, khó chạy thoát nên khi bị tổ công tác đuổi theo đến nơi T đứng lại và xin được đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng gồm 01 chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29F4-7059, 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu LIV-2020 ALIGHT2 và đưa T về trụ sở làm rõ.
Tại cơ quan điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 207 ngày 09/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì chiếc xe đạp nhãn hiệu LIV-2020 ALIGHT2 đã qua sử dụng, có giá trị là 8.300.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp nhãn hiệu LIV-2020 ALIGHT2 là của cháu Lê Nhật M. Chiếc xe do bố cháu M là ông Lê Quang H mua cho cháu M để làm phương tiện đi học. Tối ngày 08/6/2022 cháu M để xe dưới tầng 1 để học thêm trên tầng 3 nhà số 204 đường Hoàng Ngân thì bị T lấy trộm. Cháu Lê Nhật M cùng gia đình đã nhận lại chiếc xe đạp nhãn hiệu LIV-2020 ALIGHT2 và không có yêu cầu gì.
Đối với chiếc xe máy Honda Dream BKS: 29F4-7059 qua xác minh có số khung, số máy nguyên thủy. Xác định chủ sở hữu là anh Phan Thế T1. Anh T1 cho anh H1 mượn, anh H1 cho T mượn lại. Khi anh H1 cho T mượn không biết mục đích T sử dụng vào việc phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe trên cho anh T1. Anh T1 không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 183/CT-VKSCG ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Nguyễn Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 điều 173; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 26 đến 30 tháng tù.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Viết T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Người bị hại, người giám hộ cho người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/6/2022 tại khu vực trước cửa số nhà 204 đường Hoàng Ngân, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Nguyễn Viết T đã có hành vi lén lút, chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp địa hình màu hồng nhãn hiệu LIV-2020 ALIGHT2, giá trị tài sản là 8.300.000 (tám triệu ba trăm nghìn) đồng của cháu Lê Nhật M. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung quy định tại khoản 2 điều 173: “Tái phạm nguy hiểm”. Tội danh và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân tại địa phương, làm mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân rất xấu, có 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích và 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản đã được xóa án tích. Điều đó chứng tỏ mặc dù đã được cơ quan pháp luật giáo dục, trừng trị, răn đe nhiều lần mà bị cáo vẫn coi thường pháp luật, tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù giam nghiêm khắc nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan công an nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ điểm g khoản 2 điều 173; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt : Nguyễn Viết T 34 (ba mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú 08/6/2022.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người giám hộ cho người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Cầu Giấy,TP Hà Nội; - Công an Q. Cầu Giấy, TP Hà Nội; - Thi hành án Q. Cầu Giấy,TP Hà Nội; - Sở tư pháp TP Hà Nội; - Bị cáo;Người bị hại - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Tú |