vanban.org

Bản án 225/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội che giấu tội phạm (điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 313 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 225/2019/HS-PT
Ngày: 20-5-2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

Các"Thẩm"phán:" 1/ Bà Nguyễn Hoàng Anh"

2/ Ông Lê Công Huân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20/5/2019 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 120/2019/TLPT-HS ngày 01 tháng 03 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:"

Nguyễn!Văn!B;!sinh năm 1985 tại Thanh Hoá; hộ khẩu thường trú: Xóm A, thôn C, xã D, Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở: 32/21 đường M, phường N, thị xã E, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị T; hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013); tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 04/5/2012 bị Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Bình Dương xử phạt 7.000.000 đồng (Hình phạt chính) về tội “Đánh bạc” (Thi hành xong ngày 30/12/2016)(Bản án số 86/2012/HSST);

Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 25/9/2018 đến ngày 19/10/2018 thì được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 25/11/2017, Nguyễn Văn B nhận được điện thoại của Bùi Tiến Hà báo có sắt phế liệu muốn bán và nói B tự kêu xe đến Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh chở vể. B thuê xe của Nguyễn Hữu T2 chở hàng. Sau đó, tài xế của Thuỷ là Phùng Trọng T3 và Phan Trung C2 điều khiển xe Huyndai, màu trắng BS 88C-099.25 đến kho ngoài trời của Công ty điện tử Samsung Engineering, thuộc Khu Công nghệ cao, phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh theo sự chỉ dẫn của H2 qua điện thoại và 02 thanh niên (chưa xác định lai lịch) chạy xe Honda. Khi vào đến kho bãi, T4 và C1 cùng hai thanh niên đi cùng cẩu 09 thanh xà dầm thép và 03 cuộn phôi cán tôn lên thùng xe, do xe đầy nên T4 bỏ lại 01 thanh xà dầm. Do thấy số phôi thép còn mới nguyên nên T4 nghi ngờ là hàng trộm cắp và gọi báo cho H2 phải có hoá đơn chứng từ mới chở hàng, H2 đồng ý và nói sẽ mang giấy ra ngay. T4 điều khiển xe chạy ra cổng số 5 của Công ty Samsung, tại đây có 02 thanh niên khác (không rõ lai lịch) cầm giấy tờ đến phòng bảo vệ và vẫy tay ra hiệu cho T4 điều khiển xe ra cổng và chạy đến tiệm mua bán phế liệu của Nguyễn Văn B tại số 32/21, đường J, phường X, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Tại đây B trả trước cho người của H2 số tiền 50.000.000 đồng, số tiền mua bán còn lại sẽ thanh toán sau. Sau khi phát hiện bị mất số tài sản trên, ngày 26/11/2018, đại diện Công ty Samsung Engineering Việt Nam, đến Công an phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9 trình báo sự việc. Đến sáng ngày 26/11/2017, B nhận được điện thoại của H2 báo số xà dầm và phôi thép bán cho B là hàng trộm của Công ty Samsung trong Khu công nghệ cao Quận 9 và Công an đang truy tìm nên B gọi điện cho T4 và Thuỷ dặn không khai báo việc chở số hàng hoá trên đến cho B, nhưng T4 và Thuỷ không đồng ý và nói sẽ khai báo đúng sự việc. Trưa cùng ngày, B kêu vợ là Nguyễn Thị A1 liên hệ bán lại cho Nguyễn Văn Hùng tại xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai 03 cuộn phôi thép cán tôn, nhưng chưa nhận tiền, 08 thanh xà dầm còn lại B kêu chị A1 mang đi gửi tại kho của Phan Hồng Q tại nhà không số, tổ 22, khu phố Bình Phước B, phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 của Toà án nhân dân Quận 9 đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Che giấu tội phạm”. Áp dụng khoản 1 Điều 313, điểm g khoản 1 Điều 48 và các điểm a-p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm t Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo B 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/9/2018 đến ngày 19/10/2018. Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/01/2019, bị cáo Nguyễn Văn B kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của đại diện bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xét đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận:

Ngày 25/11/2018, bị cáo B nhận được điện thoại của Bùi Tiến H2 báo có sắt phế liệu muốn bán và B đồng ý mua. B đã thuê xe của Nguyễn Hữu T2, T2 đã điều tài xế Phùng Trọng T4 đến kho ngoài trời của công ty điện tử Sam sung thuộc Khu công nghệ cao phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh chở hàng hóa về và B đã trả trước cho người của H2 số tiền 50.000.000 đồng, số tiền mua bán còn lại sẽ thanh toán sau.

Đến sáng ngày 26/11/2017, B nhận được điện thoại của H2 báo số xà dầm và phôi thép bán cho B là hàng trộm cắp của công ty Samsung trong Khu công nghệ cao Quận 9 và Công an đang truy tìm nên B gọi điện thoại cho Phùng Trọng T4 và Nguyễn Hữu T2 (là tài xế xe mà bị cáo B thuê chở hàng) dặn không khai báo việc chở số hàng hóa trên đến cho B nhưng T4 và T2 không đồng ý. Trưa cùng ngày, B kêu vợ là Nguyễn Thị A1 liên hệ gửi bán lại cho Nguyễn Văn Hùng tại Đồng Nai 03 cuộn phôi thép cán tôn, 08 thanh xà dầm còn lại B kêu vợ mang đi gửi tại kho của Phan Hồng Q tại nhà không số, Tổ 22, khu phố Bình Phước B, phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Theo Kết luận định giá tài sản số 120-2018/KL-ĐGTS ngày 11/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân Quận 9 thì 03 cuộn tôn cáp thép hiệu Gangxing có giá trị còn lại 306.445.000 đồng; 08 thanh xà I bằng sắt hình chữ H (H beam) không rõ nhãn hiệu, sơn chống gỉ màu đỏ đã qua sử dụng có giá trị còn lại 29.775.000 đồng.

[2] Xét thấy khi trao đổi mua bán với Bùi Tiến H2, bị cáo B không biết được số tài sản này là do trộm cắp được nhưng sau khi được H2 thông báo và biết được số tài sản trên là do H2 trộm cắp bán cho mình thì bị cáo B đã không khai báo việc chở số hàng hóa trên đến cho B và đem bán 03 cuộn phôi thép cán tôn cho Nguyễn Văn Hùng cũng như đem 08 thanh xà dầm đi gửi nơi khác. Do hiện nay Bùi Tiến Hà đã bỏ trốn nên chưa có cơ sở làm rõ hành vi của B về tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Che giấu tội phạm” theo khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có cơ sở. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự đúng đắn của các hoạt động tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cũng xem xét bị cáo đã có hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc giải quyết vụ án, ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và cũng xem xét bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xem xét và xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 tháng tù. [4] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo B làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử xem xét. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ cho bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 tháng tù là phù hợp. Do đó, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên, !

QUYẾT!ĐỊNH:!

! Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ!luật Tố tụng hình sự năm 2015. 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Che giấu tội phạm”. Áp dụng khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng có khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/9/2018 đến ngày 19/10/2018. 2. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ