vanban.org

Bản án 225/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Huỳnh Văn P. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Ánh T, sinh ngày 06/02/2004 và cháu Huỳnh Khánh B cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGD"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

,
Bản án số:225/2018/HNGĐ-ST
Ngày 23–10–2018
“V/v xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Bùi Hữu Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Trong ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2018/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 7 năm 2018 về việc “xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 309/2018/QĐXXST–HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp AH, xã TT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Huỳnh Văn P, sinh năm 1981 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp AH, xã TT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Thị Hạnh (Nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P chung sống với nhau vào năm 2003, nhưng đến ngày 16/11/2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã VT, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau thì phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, sự sẻ chia trong cuộc sống vợ chồng không có, bản thân chị thấy hụt hẫn tinh thần, anh chị đã sống ly thân nhau cách nay khoảng 1 năm. Nay chị xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa nên yêu cầu xin ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị và anh P có hai con chung Huỳnh Thị Ánh T, sinh ngày 06/02/2004 và Huỳnh Khánh B, sinh ngày 12/11/2012, hiện nay đang sống với chị H.

Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Tòa án nhận định:

[1] Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị H và anh Huỳnh Văn P là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Huỳnh Văn P có địa chỉ cư trú tại ấp AH, xã TT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Huỳnh Văn P chung sống với nhau với nhau vào năm 2003, nhưng đến ngày 16/11/2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Việt Thắng, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị Nguyễn Thị H có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị H đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh Huỳnh Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh P hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh P vẫn vắng mặt không lý do, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh P.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị H và anh P phát sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, sự sẻ chia trong cuộc sống vợ chồng không có, bản thân chị thấy hụt hẫn tinh thần, hai người đã có thời gian ly thân kéo dài. Anh P không có ý kiến gì đối với việc chị H xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị H và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh P là phù hợp.

Về nuôi dưỡng con chung: Chị và anh P có hai con chung Huỳnh Thị Ánh T, sinh ngày 06/02/2004 và Huỳnh Khánh B, sinh ngày 12/11/2012, hiện nay đang sống với chị H.

Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T và cháu B. Xét thấy, anh P không có ý kiến gì về việc chị H yêu cầu nuôi cháu T, cháu B và tại biên bản làm việc của Tòa án ngày 07/9/2018 thì cháu T có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, từ khi anh chị ly thân cho đến nay thì cháu B sống cùng chị H, chị H có đủ điều kiện để nuôi dạy cháu B. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu T và cháu B cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên là phù hợp quy định tại Điều 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Nếu sau này, chị H và anh P có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị H và anh P đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị H phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 9, 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Huỳnh Văn P.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Ánh T, sinh ngày 06/02/2004 và cháu Huỳnh Khánh B cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004584 ngày 09/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Huỳnh Văn P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ