- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh T:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2248/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/10/2023. V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
Ông Nguyễn Thành Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 17/10/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân dân Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 187/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/6/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4549/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1986.
Địa chỉ cư trú: Số 297/43/57 đường PHÍ, Phường X, quận GV, Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1986.
Địa chỉ cư trú tại nước Australia (Úc): 9A O’Connell Street, Kingswood, NSW, 2747, Australia (Úc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Nguyễn Thị Bích N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T kết hôn năm 2015 theo giấy đăng ký kết hôn số 57/2015 quyển số 01/2015 ngày 17/4/2015 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố H cấp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính cách không phù hợp, suy nghĩ của hai bên khác nhau, bất đồng quan điểm sống, từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được, bà Nguyễn Thị Bích N yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Mạnh T.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/7/2018. Hiện nay trẻ Nguyễn Hoàng Đ do bà Nguyễn Thị Bích N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục.
Ly hôn, bà Nguyễn Thị Bích N yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Mạnh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Văn bản trình bày ý kiến đã được hợp pháp hóa lãnh sự ngày 11/9/2023, ông Nguyễn Mạnh T trình bày:
Việc đăng ký kết hôn, mâu thuẫn giữa vợ chồng, con chung, tài sản chung, nợ chung; Ông Nguyễn Mạnh T đồng ý thống nhất trình bày của bà Nguyễn Thị Bích N.
Bà Nguyễn Thị Bích N khởi kiện xin ly hôn, ông Nguyễn Mạnh T có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Mạnh T đồng ý ly hôn bà Nguyễn Thị Bích N.
Về con chung: Ly hôn, bà Nguyễn Thị Bích N yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung Nguyễn Hoàng Đ, không yêu cầu ông Nguyễn Mạnh T cấp dưỡng nuôi con, ông Nguyễn Mạnh T đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Nguyễn Mạnh T đồng ý.
Bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố H giải quyết, xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh T, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Mạnh T đang cư trú tại nước Australia (Úc), bà Nguyễn Thị Bích N cư trú tại quận GV, Thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét sự vắng mặt của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N, bị đơn ông Nguyễn Mạnh T tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N và bị đơn ông Nguyễn Mạnh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh T, xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2015 quyển số 01/2015 ngày 17/4/2015 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố H cấp cho bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T; có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Nguyễn Thị Bích N yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Mạnh T với lý do sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính cách không phù hợp, suy nghĩ của hai bên khác nhau, bất đồng quan điểm sống, từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Đối với ông Nguyễn Mạnh T cũng thừa nhận trình bày của bà Nguyễn Thị Bích N là đúng và đồng ý ly hôn bà Nguyễn Thị Bích N. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích N ly hôn ông Nguyễn Mạnh T theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/7/2018. Hiện nay trẻ Nguyễn Hoàng Đ do bà Nguyễn Thị Bích N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục.
Ly hôn, bà Nguyễn Thị Bích N yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Mạnh T cấp dưỡng nuôi con; Ông Nguyễn Mạnh T đồng ý. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của hai bên đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích N phải chịu theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điều 91, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích N đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh T:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích N ly hôn ông Nguyễn Mạnh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2015 quyển số 01/2015 ngày 17/4/2015 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố H cấp cho bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/7/2018.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Bích N và ông Nguyễn Mạnh T: Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Hoàng Đ cho bà Nguyễn Thị Bích N trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Mạnh T cho đến khi có yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích N.
Việc giao nhận con chung chưa thành niên tên Nguyễn Hoàng Đ do hai bên đương sự tự thi hành hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích N phải chịu là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001566 ngày 12/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.
5. Về quyền kháng cáo Bản án:
Bà Nguyễn Thị Bích N vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Mạnh T cư trú ở nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.H; - VKSND cấp cao tại TP.H; - VKSND TP.H; - Cục THADS TP.H; - UBND PA, QB, TP.H; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Trịnh Minh Đức |