vanban.org

Bản án 224/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

: Bị cáo Phạm Anh V ………………về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 11/3/2026. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Anh V - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2026/HS-ST
Ngày: 23/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa

2. Ông Lưu Văn Có

- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Thùy Dương – Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 233/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2026/QĐXXST-HS ngày 26/6/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2026/HSST-QĐ ngày 14/7/2026 đối với bị cáo:

- Phạm Anh V - sinh năm: 1986 tại Cộng hòa Séc; Giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ dân phố Lương Sơn 2, phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: STH 16.12A đường 8C, KĐT Lê Hồng Phong 2, phường Nam Nha Trang, Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Gia T - sinh năm: 1962 và bà Đào Thị Bích H – sinh năm 1963;

Tiền án: 03

+ Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 13/4/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

+ Bản án số 108/2023/HS-ST ngày 19/4/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản, tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 13/4/2023, hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2024, chưa chấp hành án phí và các quyết định khác của bản án;

+ Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 24/7/2025, bị Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2026, chưa chấp hành án phí.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: 02

+ Bản án số 364/2008/HSST ngày 16/9/2008 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2010, đã chấp hành án phí;

+ Bản án số 375/2011/HSST ngày 10/8/2011 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2013, đã chấp hành án phí.

Bị cáo Phạm Anh V đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Nha Trang, Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Khánh Hòa từ ngày 11/3/2026.

Bị hại: Bà Lê Thị Thanh N; địa chỉ: X Vĩnh Thái, phường Nam Nha Trang, Khánh Hòa (vắng mặt);

Người làm chứng:

- Ông Trần Tấn P; địa chỉ: X Đồng Nai, phường Nam Nha Trang, Khánh Hoà (vắng mặt);

- Ông Hà Trung K; địa chỉ: BT02, lô 23 đường 29, KĐT Phước Long, phường Nam Nha Trang, Khánh Hòa (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 03/3/2026, Phạm Anh V đi vào khu vực bán quần áo tại tầng 2 siêu thị Coopmart Nha Trang (địa chỉ: số 02 Lê Hồng Phong, phường Nam Nha Trang) lấy quần, áo đang bày bán mang vào phòng thử đồ. Tại đây, Vũ dùng 01 kềm bấm màu cam (loại thường dùng để cắt móng tay) mang theo từ trước cắt bỏ chíp từ cảnh báo cùng mác in nhãn hiệu, giá tiền của 01 áo thun màu xanh ngọc size L, nhãn hiệu N.1 và 01 quần jean màu xanh đen size 30, nhãn hiệu KAKA rồi mặc đồ mới trộm được, bỏ lại đồ cũ trong phòng thay đồ. Sau đó, Vũ rời khỏi khu vực bán quần áo tại tầng 2 siêu thị để đi xuống tầng 1. Khi Vũ chuẩn bị đi ra cửa siêu thị thì bị bộ phận bảo vệ phát hiện, bắt quả tang Vũ đang mặc quần áo vừa trộm được trên người nên đã trình báo Công an phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tại Cơ quan công an, Phạm Anh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xác định: Tại thời điểm định giá tháng 3/2026, 01 áo thun màu xanh ngọc, nhãn hiệu N.1, size L có giá 299.000 đồng, 01 quần jean màu xanh đen, nhãn hiệu KAKA, size 30 có giá 419.000 đồng.

Tổng tài sản mà Phạm Anh V đã trộm cắp tại siêu thị Coopmart Nha Trang có giá trị 718.000 đồng (Bảy trăm mười tám nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKSKV1-HS ngày 11/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Phạm Anh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa phát biểu quan điểm tại phiên tòa: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về mức hình phạt: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Phạm Anh V từ 06 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 03/3/2026.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tiêu hủy: 01 kềm bấm cầm tay màu cam.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HS-ST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của bị hại, người làm chứng không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 290, 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 22/02/2026 bị cáo Phạm Anh V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản tại khu vực bán quần áo của siêu thị Coopmart Nha Trang gồm một bộ áo thun và quần Jean có tổng giá trị 718.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, tuy nhiên tài sản mà bị cáo trộm cắp trị giá dưới 2.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa truy tố bị cáo Phạm Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 là đúng pháp luật.

Căn cứ vào lời khai, các tài liệu có trong hồ sơ, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không sử dụng sức lao động của mình để làm việc chân chính nuôi sống bản thân mà lại trộm cắp tài sản của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo Phạm Anh V phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với bị cáo Phạm Anh V ;

3. Xử phạt

: Bị cáo Phạm Anh V ………………về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 11/3/2026.

4. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét

5. Về xử lý vật chứng vụ án: áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật hình sự:Tuyên tiêu hủy: 01 kềm bấm cầm tay màu cam (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Tỉnh Khánh Hòa và Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

6. Về án phí: bị cáo Phạm Anh V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo cí quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ