vanban.org

Bản án 224/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N phải thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV Số V tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/06/2025 là 2.134.248.874 đồng (Hai tỷ một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó: Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0027/1323 ngày 15/08/2023: Nợ tổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2025/DS-ST
Ngày: 05/06/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đàm Vân

2. Ông Đinh Hoàng Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên toà:

Bà Cao Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 06 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 515/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH MTV Số V

Trụ sở: đường L, phường Đ, quận K, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên

Người được uỷ quyền lại: Bà Võ Thị Mỹ K – sinh năm 1996; địa chỉ: đường T, Phường P, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Quyết định uỷ quyền số 05/2025/QĐ-LTO ngày 28/02/2025) (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N – sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: đường B, Phường C, thành phố A, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị Mỹ K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TNHH MTV Số V, chi tiết như sau:

- Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0027/1323 ngày 15/08/2023: Số tiền vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), lãi suất 3 tháng đầu tiên là 11.5%/năm, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay để tiêu dùng phục vụ đời sống.

- Hợp đồng tín dụng hài hạn số K.0028/1323 ngày 17/08/2023: Số tiền vay là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), lãi suất 12 tháng đầu tiên là 10%/năm, thời hạn vay 300 tháng, mục đích vay để hoàn vốn mua bất động sản.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà N đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 20, ấp Bình Trị 1, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số CL735437, số vào sổ cấp GCN: CS08508 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 22/11/2017; đăng ký biến động ngày 14/8/2023 chủ sở hữu/ sử dụng là bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0017/TC23 ngày 15/8/2023, đã đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N đã thanh toán cho 02 hợp đồng tín dụng số tiền là 238.611.924 đồng (trả nợ gốc là 85.876.496 đồng, trả nợ lãi là 152.735.428 đồng). Tạm tính đến ngày 05/06/2025, bà N còn nợ tổng số tiền là 2.134.248.874 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.914.123.504 đồng, nợ lãi trong hạn là 211.104.046 đồng, nợ lãi quá hạn là 9.021.324 đồng.

Nay, Ngân hàng yêu cầu:

1. Buộc bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N trả ngay cho Vikki Bank tổng số nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tạm tính đến ngày 05/06/2025 là: 2.134.248.874 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 06/06/2025 đến ngày bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N thực trả hết số nợ cho Vikki Bank theo lãi suất quá hạn được quy định tại hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0027/1323 ngày 15/08/2023 và K.0028/1323 ngày 17/08/2023.

2. Trong trường hợp bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N không trả hết nợ cho Vikki Bank thì yêu cầu phát mại tại sản của bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N đang thế chấp tại Ngân hàng TNHH MTV Số Vikki là tài sản: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại Thửa đất 49, tờ bản đồ số 20, địa chỉ Ấp Bình Trị 1, Xã Phú Ngãi Trị, Huyện Châu Thành, Tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số CL735437, số vào sổ cấp GCN: CS08508 do Sở TN&MT Tỉnh Long An cấp ngày 22/11/2017; đăng ký biến động ngày 14/08/2023 chủ sở hữu/sử dụng là bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: K.0017/TC23 ngày 15/08/2023, đã đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định. Ngoài ra nếu tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ cho Vikki Bank thì yêu cầu tòa án buộc bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N phải bổ sung thêm tài sản khác để thanh toán nợ cho Vikki Bank.

Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng bà N vẫn không đến Toà làm việc nên không có ý kiến trình bày

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Xét lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét Hợp đồng tín dụng số K.0027/1323 ngày 15/8/2023, Hợp đồng tín dụng K.0028/1323 ngày 17/8/2023 và đơn xin chọn thẩm quyền ngày 15/04/2025 thì nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 10 để giải quyết tranh chấp là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Xét người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về số tiền vay:

Căn cứ lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TNHH MTV Số V, chi tiết như sau:

- Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0027/1323 ngày 15/08/2023: Số tiền vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), lãi suất 3 tháng đầu tiên là 11.5%/năm, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay để tiêu dùng phục vụ đời sống. Ngân hàng đã giải ngân và bà N đã nhận số tiền vay theo Bảng kê rút vốn kiêm nhận nợ vay ngày 16/8/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N đã thanh toán số tiền 85.254.388 đồng (trả nợ gốc là 40.876.496 đồng, trả nợ lãi là 44.377.892 đồng). Tạm tính đến ngày 05/06/2025, bà N còn nợ tổng số tiền 510.433.535 đồng, trong đó: nợ gốc: 459.123.504 đồng, nợ lãi trong hạn: 47.489.218 đồng, nợ lãi quá hạn: 3.820.813 đồng.

- Hợp đồng tín dụng hài hạn số K.0028/1323 ngày 17/08/2023: Số tiền vay là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), lãi suất 12 tháng đầu tiên là 10%/năm, thời hạn vay 300 tháng, mục đích vay để hoàn vốn mua bất động sản. Ngân hàng đã giải ngân và bà N đã nhận số tiền vay theo Bảng kê rút vốn kiêm nhận nợ vay ngày 17/8/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N đã thanh toán số tiền 153.357.536 đồng (trả nợ gốc là 45.000.000 đồng, trả nợ lãi 108.357.536 đồng). Tạm tính đến ngày 05/06/2025, bà N còn nợ tổng số tiền 1.623.815.339 đồng, trong đó: nợ gốc: 1.455.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 163.614.828 đồng, nợ lãi quá hạn: 5.200.511 đồng.

Xét, quá trình thụ lý giải quyết vụ án để làm rõ số tiền hiện bị đơn còn nợ và số tiền đã thanh toán, Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà để trình bày ý kiến của mình nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó, việc nguyên đơn tự nguyện khai báo về số tiền mà bị đơn đã thanh toán cũng như số tiền hiện còn nợ là có cơ sở, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm:

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 20, ấp Bình Trị 1, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số CL735437, số vào sổ cấp GCN: CS08508 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 22/11/2017; đăng ký biến động ngày 14/8/2023 chủ sở hữu/ sử dụng là bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0017/TC23 ngày 15/8/2023; đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 15/8/2023 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Căn cứ Điều 317, Điều 318 và 319 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh trách nhiệm pháp lý ràng buộc các bên thực hiện.

Căn cứ Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 8 Hợp đồng thế chấp các bên có thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phát mãi tài sản trong trường hợp bà N không trả được nợ.

Về lãi suất:

Xét thấy, tại Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số số K.0027/1323 ngày 15/08/2023 và Hợp đồng tín dụng số K.0028/1323 ngày 17/08/2023 thì giữa Ngân hàng với bà N có thoả thuận lãi suất cho vay là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, bà N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.

Về thời hạn thanh toán:

Do bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán theo như thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N phải thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV Số V tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/06/2025 là 2.134.248.874 đồng (Hai tỷ một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó:

- Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0027/1323 ngày 15/08/2023: Nợ tổng số tiền là 510.433.535 đồng; gồm: nợ gốc là 459.123.504 đồng, nợ lãi trong hạn là 47.489.218 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.820.813 đồng.

- Hợp đồng tín dụng hài hạn số K.0028/1323 ngày 17/08/2023: Nợ tổng số tiền là 1.623.815.339 đồng; gồm: nợ gốc là 1.455.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 163.614.828 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.200.511 đồng.

Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

3. Trong trường hợp bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N không thanh toán hoặc không trả hết nợ thì phải chịu các biện pháp xử lý tài sản theo quy định pháp luật kể cả việc phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sở hữu: Bất động sản toạ lạc tại thửa đất số 49, tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại Ấp Bình Trị 1, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số CL735437, số vào sổ cấp GCN: CS08508 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 22/11/2017; đăng ký biến động ngày 14/8/2023 chủ sở hữu/ sử dụng là bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0017/TC23 ngày 15/8/2023; đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 15/8/2023 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Nếu giá trị tài sản phát mãi không đủ thanh toán nợ thì bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV Số V cho đến khi thanh toán xong nợ.

4. Chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N phải hoàn trả cho Ngân hàng TNHH MTV Số V chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 49, tờ bản đồ số 20 toạ lạc tại ấp Bình Trị 1, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.682.977 đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi hai ngàn chín trăm bảy mươi bảy đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại Ngân hàng TNHH MTV Số V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 35.896.322 đồng (Ba mươi lăm triệu tám trăm chín mươi sáu ngàn ba trăm hai mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020771 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng TNHH MTV Số V và bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

7. Về thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ