vanban.org

Bản án 224/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16-6-2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NĐ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224 /2023/HS-ST
Ngày: 25-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Anh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Văn Giản

Ông Đỗ Quang Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố NĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn T, sinh năm 1983 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Xóm 3, xã PT, huyện NH, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố số 01 PO, phường LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Bá H và bà Nguyễn Thị N; vợ: Nguyễn Thị Ngọc T (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20-9-2004 Tòa án nhân dân huyện XL, tỉnh ĐN xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 16-6-2023, chuyển tạm giam từ ngày 25-6-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố NĐ; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15-6-2023, tổ công tác Công an thành phố NĐ phát hiện Ngô Văn T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, T tự giác lấy từ trong ốp điện thoại của T ra 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2x2)cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể mầu trắng (T khai là ma túy tổng hợp dạng đá mua về để sử dụng ). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Văn T. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động màu trắng hồng mặt sau có chữ OPPO bị nứt vỡ màn hình và 01 ốp điện thoại màu đen, đều đã cũ.

Bản kết luận giám định số 931/KL-KTHS ngày 21-6-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong một túi ni lông màu trắng kích thước (2x2)cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng: 0,570 gam. (Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục chất ma túy, STT: 247, Danh mục: IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ).

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Ngô Văn T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 15-06-2023, T đang ở nhà trọ tại địa chỉ: Tổ dân phố 1 PO, phường LH, thành phố NĐ do ông Nguyễn Xuân M, sinh năm 1969 là chủ thì có B là bạn xã hội (T không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) điều khiển xe máy Wave không rõ biển kiểm soát, đến rủ T góp tiền mua ma túy đá về cùng sử dụng. Trước đó, T có nợ B 100.000 đồng nên T nói để T bỏ 200.000 đồng để mua ma túy. Sau đó B chở T đến khu vực Ga NĐ, phường TT, thành phố NĐ, T đưa cho B 200.000 đồng, B cầm tiền T đưa và bảo đứng đợi. Sau đó B đi xe máy một lúc rồi quay lại chỗ T đợi, đưa cho T 01 túi ma túy. Sau đó B điều khiển xe máy đi đâu không rõ. T cất túi ma túy vào sau ốp điện thoại rồi ngồi trước của nhà số 12 TĐN, phường TĐN đợi B thì bị phát hiện, bắt giữ.

Đối với đối tượng tên B theo lời khai của T là người rủ T và góp tiền đi mua ma túy về cùng sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố NĐ phối hợp Công an phường TĐN xác minh, kết quả không có đối tượng nào tên B có đặc điểm như T khai.

Bản cáo trạng số 231/CT-VKS-TPNĐ ngày 08-9-2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ truy tố Ngô Văn T tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình và khai nguyên nhân bị cáo phạm tội do bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Ngô Văn T.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy và 01 chiếc ốp điện thoại đã thu giữ; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về tội danh:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15-6-2023, Ngô Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,570 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số 12 TĐN, phường TĐN, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

Hành vi của bị cáo Ngô Văn T còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung tăng nặng:

Hành vi của bị cáo không cấu thành tình tiết định khung tăng nặng.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Ngô Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về hình phạt chính:

Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không nhiều nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy bị thu giữ trong phong bì niêm phong số 931/KL-KTHS là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, 01 ốp điện thoại không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

- 01 điện thoại di động màu trắng hồng mặt sau có chữ OPPO bị nứt vỡ màn hình đã cũ là tài sản riêng của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sụ sơ thẩm.

Án phí Hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Ngô Văn T bị kết án nên phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16-6-2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 931/KL-KTHS và 01 ốp điện thoại màu đen đã cũ.

- Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T 01 điện thoại di động màu trắng hồng mặt sau có chữ OPPO bị nứt vỡ màn hình, không có có Emei nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sụ sơ thẩm.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 11-9-2023 giữa Công an thành phố NĐ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố NĐ).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Ngô Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ