- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thúy H , Lê Thanh K"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy H
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 224 /2023/HNGĐ- ST Ngày 27 tháng 9 năm 2023 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Sơn
- Các Hội thẩm nhân nhân dân:
- Bà Lê Thị Hồng Trang.
- Ông Nguyễn Văn Trạng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Bà Đặng Kiều My– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 454/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy H, sinh năm 1979 (Xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C Ấp B, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Anh Lê Thanh K, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C Ấp B, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thúy H trình bày:
Chị H và anh Lê Thanh K cưới nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào năm 2003. Sau khi kết hôn chị H và anh K chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đã ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh K.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Huỳnh Thúy N, sinh ngày 01/01/2005 (Đã trưởng thành) và Lê Huỳnh Khải H1, sinh ngày 01/8/2009 hiện đang sống cùng chị H. Khi Ly hôn, chị H yêu cầu tiếp tục là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1. Không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Lê Thanh K vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn”.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lê Thanh K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chị Lê Thị Thúy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh K và chị H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy H và anh Lê Thanh K chung sống với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang nên hôn nhân giữa chị H và anh K là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị H trình bày sau khi kết hôn thì hôn nhân giữa chị H và anh K hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, khiến cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn nhiều hơn. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh K. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt được mục đích trên vợ chồng phải yêu thương, chăm sóc và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Hiện nay theo chị H trình bày giữa chị H và anh K không còn tình cảm với nhau. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh K vắng mặt không lý do cho thấy anh K không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Mặc khác, chị H và anh K đã sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay nhưng không có giải pháp đoàn tụ nên hôn nhân giữa chị H và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh K có 02 con chung tên Lê Huỳnh Thúy N, sinh ngày 01/01/2005 (Đã trưởng thành) và Lê Huỳnh Khải H1, sinh ngày 01/8/2009 hiện đang sống cùng chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục là người chăm sóc nuôi dưỡng cháu H1 và cháu H1 cũng có nguyện vọng sống cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Để không làm sáo trộn cuộc sống sinh hoạt bình thường và để đáp ứng nguyện vọng của trẻ cần giao cháu H1 cho chị H tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh K không ai phải cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa có yêu cầu.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Thúy H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy H
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy H
-Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy H được ly hôn với anh Lê Thanh K
-Về con chung: Cháu Lê Huỳnh Thúy N, sinh ngày 01/01/2005 (Đã trưởng thành). Giao cháu tên Lê Huỳnh Khải H1, sinh ngày 01/8/2009 cho chị Lê Thị Thúy H tiếp tục là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
+Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa có yêu cầu.
+Anh Lê Thanh K được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
-Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2/ Về án phí:
Chị Lê Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0024084 ngày 13/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Mỹ Tho nên xem như nộp xong án phí.
3/ Các đượng sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP Mỹ Tho, - CC THADS TP Mỹ Tho; - UBND phường 5, TP Mỹ Tho; - Đương sự, - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thanh Sơn |