vanban.org

Bản án 224/2023/DSPT — Dân sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 08/12/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và Lê Thị Bé N.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/2023/DS-ST, ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ. 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P đối với bị đơn Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và Lê Thị Bé N.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2023/DSPT
Ngày: 08 - 12 - 2023
Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc;

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Lộc;

Bà Đặng Thị Ánh Bình,

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lữ Hồng Ngoan - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý: 247/TLPT-DS, ngày 31 tháng 10 năm 2023. Về việc “Tranh chấp hợp đồng mua tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2023/DSST, ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 256/2023/QĐ-PT, ngày 09 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Hồ Ngọc P, sinh năm 1966 - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P (có mặt).

Địa chỉ: Số A, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn:

1/ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1963 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Bà Lê Thị Bé N, sinh năm 1962 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 05 năm 2023 và những lời khai trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Hồ Ngọc P trình bày:

Từ năm 2017 đến năm 2018 ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P có thỏa thuận bán thức ăn chăn nuôi nhãn hiệu Thăng Long cho bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N qua nhiều vụ nuôi cá đến khi ngưng không bán hàng nữa. Hai bên tính toán nợ vào ngày 19/12/2018 ông H và bà N thừa nhận nợ nguyên đơn số tiền 129.000.000 đồng, sự việc này có ông H và bà N tự tay ký tên và ghi họ, tên vào hóa đơn xác nhận số tiền nợ nêu trên. Từ đó, đến ngày nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn không có trả khoản tiền nào cho nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N trả số tiền còn nợ mua thức ăn chăn nuôi 129.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 19/12/2018 đến ngày 19/5/2023 (tính chẳn 53 tháng) lãi suất 10%/năm.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N trình bày: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay phía ông H, bà N đều nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nhưng vì bận công việc nên không có đến Tòa án. Tại phiên tòa hôm nay, phía bị đơn thừa nhận chữ ký tên và ghi họ tên trong hóa đơn ngày 19/12/2018 là của bị đơn nhưng khi ký tên do nghe phía cửa hàng ông P nói chỉ còn nợ số tiền 116.000.000 đồng, ông H, bà N không có xem lại hóa đơn, nên chỉ đồng ý trả số tiền nợ 116.000.000 đồng và xin trả dần.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2023/DSST, ngày12/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, quyết định. Tuyên xử:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 430, 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12, Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P đối với bị đơn Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N.

2/ Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N có trách nhiệm trả cho ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P số tiền là 188.959.000 đồng (Một trăm tám mươi tám triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn đồng) (Trong đó, nợ gốc 129.000.000 đồng, nợ lãi 59.959.000 đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và kháng cáo của đương sự.

Ngày 25/9/2023, ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N kháng cáo yêu cầu phúc thẩm giải quyết: Đồng ý trả tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ cho ông P số tiền 129.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi, xin trả dần.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N trình bày: Ông H, bà N đồng ý trả ông P số tiền 129.000.000 đồng nhưng xin được trả 03 lần vào năm 2024; đối với số tiền lãi không đồng ý trả tiền lãi.

Ông Hồ Ngọc P trình bày: Không đồng ý theo yêu cầu của ông H, bà N. Nếu ông H, bà N có thiện chí trả nợ trong giai đoạn thi hành án ông P sẽ xem xét giảm tiền lãi; không đồng ý cho ông H, bà N trả 03 lần trong năm 2024 đối với số tiền 129.000.000 đồng.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát: Trình bày phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tung dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay sự có mặt của các thành viên, Thẩm phán và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại phiên tòa phúc thẩm.

Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình tham gia tố tụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N.

Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông H, bà Bé N (người cao tuổi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự. Căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án sơ thẩm xét xử ngày 12/9/2023 đến ngày 25/9/2023 ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N kháng cáo nên kháng cáo của ông H, Bé N là hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét, ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N

Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N kháng cáo không đồng ý trả tiền lãi cho ông Hồ Ngọc P.

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 440 Bộ luật dân sự quy định:

“2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.

3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này” .

Các đương sự đều thừa đã nhận việc xác lập hợp đồng mua bán tài sản (thức ăn chăn nuôi) giữa ông P và ông H, bà N. Ông H, bà N cũng đã thừa thừa nhận đến nay còn nợ ông P số tiền mua thức ăn chăn nuôi là 129.000.000 đồng thể hiện tài liệu, chứng cứ ông P cung cấp là hóa đơn bán hàng 19/12/2018. Do đó, việc ông P yêu cầu tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ và Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông P là có căn cứ. Ông H, bà N kháng cáo không đồng ý trả tiền chậm thực hiện nghĩa vụ với lý do ông P ngưng không bán thức ăn chăn nuôi cho ông H, bà N dẫn đến ông H, bà N bị thiệt hại trong chăn nuôi nhưng không có chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H, bà N.

Xét ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N kháng cáo yêu cầu xin được trả dần.

Theo quy định tại Điều 1 Luật thi hành án quy định về trình tự thủ tục thi hành án đối với những bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực. Do đó, việc thi hành án của Tòa án khi bản án có hiệu lực là do Cơ quan thi hành án quyết định theo quy định của pháp luật. Bị đơn yêu cầu được trả dần số tiền nợ của ông P, ông P không đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N.

Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, bị đơn phải nộp án phí dân sự phúc thẩm nhưng bị đơn là người cao tuổi nên miễn án phí phúc thẩm cho các bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và Lê Thị Bé N.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 99/2023/DS-ST, ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 430, 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12, Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P đối với bị đơn Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N.

2/ Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Bé N có trách nhiệm trả cho ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P số tiền mua thức ăn chăn nuôi còn nợ là 129.000.000 đồng; tiền lãi 59.959.000đồng. Tổng cộng 188.959.000 đồng (Một trăm tám mươi tám triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2/ Về án phí:

2.1/ Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bà N, ông H (người cao tuổi).

Hoàn trả cho ông Hồ Ngọc P - Chủ hộ kinh doanh Hồ Ngọc P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.665.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0005066 ngày 26/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

2.2/Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Bé N (do người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thụân thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ