vanban.org

Bản án 224/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2022/HS-PT
Ngày: 23-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông D ng Ng c Thành

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Bà Huỳnh Thị Ph ợng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu – Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 150/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Trần Đức T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số: 84/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Đức T, sinh năm 1993, tại tỉnh Long An; N i th ờng trú: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; N i tạm trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (h c vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn A và bà Nguyễn Ng c Y; Có vợ tên Thạch Thị Mai L1 và 03 ng ời con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2022 đến ngày 27/6/2022 đ ợc thay thế biện pháp ngăn chặn sang bảo lãnh, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phạm Chí L, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Văn Th, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

2. Thạch Thị Mai L1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

2. Trần Minh Ch, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2021, bị cáo Trần Đức T cùng với Nguyễn Thanh T1, và T2 (không xác định nhân thân lai lịch) đang ngồi uống bia phía bên hông phải nhà ông Trần Minh Ch tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Lúc này, bị hại Phạm Chí L nhà gần nhà ông Ch, từ nhà đi sang nhà ông Ch để ch i. Tại đây, T1 rủ L vào nhậu, L nói không nhậu, T nói L “không nhậu thì về nhà ôm vợ ch i đi, còn không rủ đông ng ời ra ngã t Đ đâm ch i, L trả lời “tao không nhậu thì thôi, làm gì mà rủ tao đâm lộn” nên giữa L và T xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau, đ ợc T1 và T2 can ngăn nên L bỏ đi về nhà lấy 01 ống tuýp sắt tròn dài khoảng 50cm cầm trên tay quay lại chổ T đang ngồi uống bia để đánh nhau với T thì đ ợc ông Phạm Văn Th (cha ruột L) can ngăn L và kêu L đi về nhà. Khi về đến nhà L và T tiếp tục cự cãi nhau. Lúc này, L vào nhà lấy một cây cuốc dài 1,12 mét, cán bằng gỗ tròn dài 1,07 mét, l ỡi cuốc bằng kim loại rộng 27,5cm cầm trên tay đi sang nhà ông Ch để đánh nhau với T. Thấy L cầm cuốc đi đến, T đứng lên lấy con dao tự chế l ỡi bằng kim loại dài 36cm, cán bằng gỗ dài 11cm đang để trên thùng mốt dùng để chặc đá gần chỗ của T đang ngồi cầm trên tay phải đứng đối diện với L. Hai tay L cầm cuốc đ a lên cao đánh từ trên xuống trúng 01 cái vào vai trái của T làm r i cây cuốc xuống đất, T bị th ng tích nhẹ. T cầm dao chém L liên tục 3-4 cái theo h ớng từ trái qua phải và từ phải qua trái trúng vào khuỷu tay trái 01 cái, trúng vào vai trái 01 cái, trúng vào vùng đỉnh đầu 01 cái, L bỏ chạy về nhà. T cầm dao đuổi theo L thì bị ông Th (cha ruột L) ngăn cản T lại làm dao trúng vào tay trái của ông Th 01 cái gây th ng tích nhẹ. Thấy L chạy vào nhà, nên bị cáo T cũng đi về. bị hại L đ ợc ng ời nhà đ a đi bệnh viện điều trị vết th ng và sau đó có đ n yêu cầu xử lý hành vi của bị cáo T theo quy định của pháp luật.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 cây cuốc dài 1,12 mét, cán bằng gỗ tròn dài 1,07 mét, l ỡi cuốc bằng kim loại rộng 27,5cm; 01 con dao tự chế, l ỡi bằng kim loại, dài 36cm, cán bằng gỗ.

Tại kết luận giám định pháp y về th ng tích số 134/TgT.21-PY ngày 30/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Đầu: vùng đỉnh đầu sẹo vết th ng có kích th ớc 6cm x 1cm lành, không dấu thần kinh khu trú.

- Vai: có sẹo vết th ng vai trái có kích th ớc 6cm x 0,3cm lành, không co rút, không ảnh h ởng đến chức năng.

- Tay trái: khuỷu tay trái có sẹo vết th ng có kích th ớc 8cm x 0,3cm lành.

Sẹo phẩu thuật có kích th ớc 8cm x 0,3cm lành tốt không co rút.

Chức năng hạn chế vùng khủy tay trái biến dạng cứng khớp, làm ảnh h ởng đến chức năng gập duỗi cẳng tay trong khoảng 50 đến 450.

* Kết quả Xquang: Gãy đầu d ới x ng cánh tay và gãy mỏm khuỷu tay trái đang kết hợp x ng.

* CT canner (HSBA): Gãy phức tạp trên lồi cầu x ng cánh tay trái.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông t số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn th ng c thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỷ lệ tổn th ng c thể do th ng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Phạm Chí L là 37% (Ba m i bảy phần trăm).

3. Kết luận khác: C chế hình thành vết th ng có khả năng là do vật sắc nh n gây ra”.

Tại Bản án hình sự s thẩm số 84/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức T phạm tội “Cố ý gây th ng tích”.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134 (thuộc tr ờng hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này); điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T 5 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (đ ợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/3/2022 đến ngày 27/6/2022).

Ngoài ra, bản án s thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những ng ời tham gia tố tụng.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, bị cáo Trần Đức T kháng cáo kêu oan cho rằng hành vi của bị cáo là phòng vệ chính đáng nên bị cáo không phạm tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đức T thừa nhận đã thực hành vi nh nội dung bản án s thẩm và xác định bị Tòa án cấp s thẩm xét xử về tội “Cố ý gây th ng tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án nh sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Đức T thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đ ợc chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa s thẩm và những chứng cứ khác có trong hồ s vụ án đã có đủ c sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Đức T có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây th ng tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nh trên là đúng pháp luật, không oan.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nh : Bị cáo đã đã khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị hại có đ n xin bãi nại, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 05 năm tù là đúng ng ời, đúng tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của bản thân nên cần xem xét cho bị cáo h ởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, quá trình điều tra xác định do bị hại L cầm cuốc đánh từ trên xuống trúng 01 cái vào vai trái của T làm r i cây cuốc xuống đất sau đó T cầm dao chém L liên tục 3-4 cái theo h ớng từ trái qua phải và từ phải qua trái, do đó hành vi của bị cáo là phạm tội trong tr ờng hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra là tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, giữa bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn có một phần lỗi của bị hại, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, ch a có tiền án, tiền sự nên có đủ căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự s thẩm số 84/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo h ớng giảm nhẹ cho bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Các quyết định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo Trần Đức T kháng cáo trong thời hạn luật quy định nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa s thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ s vụ án có đủ c sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2021, tại bên hông phải nhà của ông Trần Minh Ch thuộc ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, do có mâu thuẫn từ việc T1 rủ bị hại L vào uống bia nh ng bị hại L không uống nên dẫn đến giữa bị cáo T và bị hại L xảy ra cự cãi nhau. Bị hại L sử dụng một cây cuốc đánh trúng vào vai bị cáo làm r i cây cuốc xuống đất, bị cáo bị th ng tích nhẹ nên bị cáo đã sử dụng một 01 con dao tự chế, l ỡi bằng kim loại, dài 36cm, cán bằng gỗ là hung khí nguy hiểm chém liên tục 3-4 cái theo h ớng từ trái qua phải và từ phải qua trái làm trúng 01 cái vào khuỷu tay trái, trúng 01 cái vào vai trái và trúng 01 cái vào đỉnh đầu của bị hại L gây tổn th ng với tổng tỷ lệ là 37%.

Hành vi của bị cáo Trần Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây th ng tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm gây th ng tích cho bị hại với tổng tỷ lệ th ng tích là 37% nên Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ng ời đúng tội, không oan cho bị cáo.

[3] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp s thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nh : Bị cáo đã khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị hại có đ n xin bãi nại, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 05 năm tù.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo: Bị cáo Trần Đức T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nh ng không cung cấp tình tiết nào khác ngoài các tình tiết mà Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của bản thân nên cần xem xét cho bị cáo h ởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định do bị hại L cầm cuốc đánh từ trên xuống trúng 01 cái vào vai trái của bị cáo T làm cho bị cáo bị th ng tích nhẹ nên bị cáo cầm dao chém bị hại gây th ng tích do đó hành vi của bị cáo là phạm tội trong tr ờng hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra là tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà cấp s thẩm ch a xem xét nên cần xem xét cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt ngoài lần phạm tội này ch a có tiền án, tiền sự, bị hại có đ n xin bãi nại đối với bị cáo nên xem xét áp dụng hình phạt d ới mức thấp nhất của khung hình phạt đ ợc áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự s thẩm số 84/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nh đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[5] Về án phí: Bị cáo Trần Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo đ ợc chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức T; Sửa Bản án hình sự s thẩm số: 84/2022/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về hình phạt.

2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức T phạm tội “Cố ý gây th ng tích”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án nh ng đ ợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/3/2022 đến ngày 27/6/2022.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội, bị cáo Trần Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ