vanban.org

Bản án 224/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B DƢƠNG
Bản án số: 224/2021/HSST
Ngày: 16- 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH B DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Phƣơng;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Thái Thị Yến – Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 311/2021/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 272/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Quan B, sinh năm 1972 tại tỉnh Tiền Giang; nơi ĐKHKTT: Tổ 17, ấp khu phố B, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: 09/12; nghề nghiệp: tài xế; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Võ Thị Bích H (đã chết); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2021. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị hại: Ông Dƣơng Văn D, sinh năm 1977; trú tại: 1231/21/6C/2 khu phố 2, phƣờng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 5/46 khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1981; Vắng mặt.

2. Ông Dƣơng Văn H, sinh năm 1982. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ông Dƣơng Văn D, sinh năm 1977, HKTT: Khu phố 2, phƣờng B Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Lê Tiểu B, sinh năm 1981, HKTT: Ấp Vĩnh Trung, xã Hòa Chánh, huyện U Minh Thƣợng, tỉnh Kiên Giang cùng góp vốn kinh doanh Xƣởng cơ khí tại địa chỉ số 5/46 khu phố B Đức 2, phƣờng B Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng. Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 13/02/2020, Lê Tiểu B gọi điện thoại cho Lê Quan B, sinh năm: 1972, HKTT: Tổ 17, ấp Khu Phố, xã Hòa Hƣng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (là anh ruột của Lê Tiểu B) đến Xƣởng cơ khí để chở sắt vụn trong Xƣởng mang đi bán. Đến 14 giờ cùng ngày, Lê Quan B đi cùng với một nhóm ngƣời thu mua phế liệu (không rõ lai lịch) đến Xƣởng cơ khí để mang sắt vụn lên xe ô tô tải chở đi bán giúp Lê Tiểu B. Thấy vậy, ông Duẩn đến ngăn cản và không đồng ý cho Lê Quan B mang sắt đi bán do Lê Tiểu B chƣa bàn bạc thông qua ý kiến của ông Duẩn dẫn đến việc hai bên xảy ra cự cãi nhau. Lúc này, Lê Quan B lấy ra 01 (một) con dao rọc giấy dài 13cm từ trong túi quần Jean phía trƣớc bên phải đang mặc ra đâm một nhát trúng vào khuỷu tay trái của ông Duẩn gây thƣơng tích, làm ông Duẩn ngã xuống đất. Sau đó, B tiếp tục xông đến đâm ông Duẩn nhƣng bị ông Duẩn dùng chân đạp trúng ngƣời rồi ông Duẩn đứng dậy bỏ chạy vào bên trong Xƣởng cơ khí. B tiếp tục cầm dao đuổi theo và dùng dao đâm vào ngƣời ông Duẩn, thấy vậy ông Duẩn giơ tay trái lên đỡ thì bị đâm một nhát trúng vào cẳng tay trái gây thƣơng tích. Sau khi đâm ông Duẩn gây thƣơng tích, Lê Quan B cầm dao bỏ trốn khỏi hiện trƣờng, ông Duẩn đƣợc ngƣời thân đƣa đi bệnh viện cấp cứu, sau đó có đơn yêu cầu giám định thƣơng tích và xử lý hình sự đối với Lê Quan B.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 142/2020/GĐPY ngày 06/4/2020 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B Dƣơng kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại của ông Dƣơng Văn Duẩn là 18% theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo thông tƣ số: 22/2019/TT-BYT do Bộ y tế ban hành ngày 28/8/2019.

Bản Cáo trạng số 318/CT-VKS-TA ngày 30/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng đã truy tố bị cáo Lê Quan B về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Quan B từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Dƣơng Văn Duẩn không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao rọc giấy không thu hồi đƣợc nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Bị cáo Lê Quan B có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn đƣợc Nhà tạm giữ công an thành phố Thuận An xác nhận ngày 10/9/2021. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với các điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, biên bản giao nhận Cáo trạng, Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và trong nội dung đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 10/9/2021 bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của ngƣời tiến hành tố tụng nhƣ Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên; của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Trong biên bản bắt ngƣời đang bị truy nã ngày 03/6/2021 (BL 42), bản tự khai ngày 16/6/2021 (BL 117) và các Biên bản ghi lời khai và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 10/9/2021, bị cáo Lê Quan B đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 13/02/2020, tại xƣởng cơ khí địa chỉ số 5/46 khu phố B Đức 2, phƣờng B Hoà, thành phố Thuận An, tỉnh B Dƣơng bị cáo Lê Quan B dùng dao rọc giấy đâm vào tay của ông Dƣơng Văn Duẩn gây thƣơng tích với tỷ lệ theo giám định là 18%. Hành vi của bị cáo Lê Quan B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về Cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm nhƣng vẫn cố tình thực hiện, chỉ vì mâu thuẩn nhỏ với nhau, bị cáo không tìm cách ứng xử khác phù hợp đạo đức, pháp luật mà sử dụng dao rọc giấy là hung khí nguy hiểm để chém ngƣời bị hại gây thƣơng tích. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phƣơng nên cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình giảm nhẹ theo quy tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao rọc giấy không thu hồi đƣợc nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Điều 136, Điểm c, d Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Quan B phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”;

Xử phạt bị cáo Lê Quan B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2021.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ