vanban.org

Bản án 224/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xác định anh Lê Trung H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 107 Chùa Hàng, phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2018, theo Giấy khai sinh số 229/2018 đăng ký ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân…

Về án phí: Chị Vũ Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Trung H và chị Vũ Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hiếu Thương"
  • Tòa quyết gì? Xác định anh Lê Trung H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 107 Chùa Hàng, phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2018, theo Giấy khai sinh số 229/2018 đăng ký ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2021/HNGĐ-ST
Ngày 24-11-2021
V/v tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Doãn Văn Sáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 345/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2021 về việc xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Trung H; địa chỉ: Số 107 C, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thanh T; địa chỉ: Thôn 8, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 29 tháng 9 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Trung H trình bày:

Anh Lê Trung H và chị Vũ Thanh T quen nhau, nảy sinh tình cảm từ năm 2017 và có con chung là cháu Vũ Hoàng Gia Bảo do chị T sinh ra ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Giấy khai sinh số 229/2018 đăng ký ngày 31/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ngày 20 tháng 5 năm 2021 anh H và chị T đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Để đảm bảo quyền lợi cho con, anh H đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo do chị T sinh ra ngày 05 tháng 7 năm 2018.

Tại bản tự khai ngày 06 tháng 10 năm 2010 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Vũ Thanh T trình bày:

Chị Vũ Thanh T và anh Lê Trung H quen nhau và nảy sinh tình cảm từ năm 2017. Trong thời gian hai bên có quan hệ tình cảm thì chị T đã có chồng là anh Hoàng Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Nam, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đến ngày 05 tháng 7 năm 2018 chị T đã sinh một con trai đặt tên là Gia Bảo. Trong thời gian chị T sinh con Gia Bảo, chị T vẫn chưa ly hôn với anh Hoàng Văn T mà chỉ sống ly thân nên chị T đã đăng ký khai sinh cho cháu Gia Bảo tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Giấy khai sinh số 229/2018 ngày 31 tháng 8 năm 2018 và khai sinh họ tên con là Vũ Hoàng Gia Bảo, họ tên người cha chưa đăng ký. Tháng 3 năm 2021 chị T ly hôn anh Hoàng Văn T theo Bản án số 54/2021/HNGĐ-ST ngày 29/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên. Ngày 20/5/2021 chị T và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chị T khẳng định cháu Vũ Hoàng Gia Bảo do chị sinh ra ngày 05/7/2018 là con chung của chị và anh Lê Trung H. Chị T đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật xác định anh Lê Trung H là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có Bản tự khai ngày 14 tháng 10 năm 2021 thể hiện:

Anh Hoàng Văn T và chị Vũ Thanh T đã ly hôn tháng 3 năm 2021. Trước khi ly hôn anh và chị T đã sống ly thân nhau từ lâu (từ năm 2016). Nay anh Lê Trung H yêu cầu Tòa án xác định anh H là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo do chị T sinh ra ngày 05 tháng 7 năm 2018, anh T không có ý kiến gì và xác định đây không phải là con chung của anh T và chị T. Anh T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Lê Trung H là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Giấy khai sinh số 229/2018 đăng ký ngày 31/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao Giấy khai sinh số 0229/2018 ngày 31/8/2018, bản sao Giấy chứng nhận kết hôn, Bản án số 54/2021/HNGĐ-ST ngày 29/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Kết quả xét nghiệm ADN ngày 01/9/2021; kết quả phân tích AND của Công ty TNHH dịch vụ y tế và Công nghẹ Gen Smart AND; Công văn số 39/2021-SMERT AND ngày 26/10/2021 và Điều lệ của của Công ty TNHH dịch vụ y tế và Công nghẹ Gen Smart AND; Biên bản xác minh tại Công an xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là chị Vũ Thanh T đang cư trú tại xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn T.

Về yêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn:

Lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất nội dung anh Lê Trung H là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2018. Tại Kết quả xét nghiệm ADN ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Công ty TNHH Dịch vụ Y tế & Công nghệ gen Smart ADN đã kết luận: Người có mẫu ghi tên Lê Trung H có quan hệ huyết thống cha - con với người có mẫu ghi tên Vũ Hoàng Gia Bảo với độ tin cậy 99,999999%. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xác định anh Lê Trung H là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Giấy khai sinh số 229/2018 đăng ký ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là phù hợp với các Điều 88, 89, 91, 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là chị Vũ Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Xác định anh Lê Trung H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 107 Chùa Hàng, phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2018, theo Giấy khai sinh số 229/2018 đăng ký ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

2. Về án phí: Chị Vũ Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Trung H và chị Vũ Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ