- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Minh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Minh T xin giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 223/2025/HSPT Ngày 09 tháng 9 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hồng
Các thẩm phán:
Ông Lê Hoàng Tấn
Ông Nguyễn Đắc Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 511/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Dương Minh T do bị cáo kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị cáo có kháng cáo: Dương Minh T sinh năm 1977, tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số E đường số B, khu phố G, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Dương Văn C và bà Nguyễn Thị A; bị cáo có vợ và có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 10 năm 2022 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Đức T1 của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
(Ngoài ra còn có 05 bị hại và 03 người liên quan không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Minh T là nhân viên chụp X-Q và thu mua tấm phim nhựa chụp X-Q nên T thường xuyên ra vào các phòng khám, Trung tâm y tế để thu mua các tấm phim nhựa đã qua sử dụng. Do vậy, T lợi dụng sự sơ hở của các Trung tâm y tế lén lút lấy trộm các tấm phim thu nhận hình ảnh của máy chụp X-Q bán lấy tiền tiêu xài. Trong năm 2022, Dương Minh T đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 11/4/2022, T điều khiển xe mô tô Cub 50 biển số 71AD-017.98 từ Thành phố Hồ Chí Minh về quê tại tỉnh Bến Tre, khi T đi đến Phòng khám Đ, địa chỉ: 1, đường N, khu phố E, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, T để xe bên ngoài đi bộ vào trong Phòng khám lấy trộm 02 tấm thu nhận ảnh (Cassette) nhãn hiệu Fujifilm. T chở đến Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) được 4.000.000 đồng, T tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 263 ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá thành phố M, tỉnh Tiền Giang kết luận: 02 tấm thu nhận ảnh (Cassette) nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35x43cm trị giá 34.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 07 giờ ngày 16/4/2022, T gặp Phạm Phước S, sinh năm 1988. Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tại quán cà phê của Nguyễn Văn K ở huyện Đ và nhờ S chở đi bán tấm nhận ảnh đã bị hỏng T mua của một phòng khám trước đó thì S đồng ý. S chở T đi đến huyện Đ, tỉnh Long An, S đứng phía ngoài chờ còn T vào Phòng chụp X-Q ở khu vực vòng xoay huyện Đ gặp bác sĩ S1 để bán tấm nhận ảnh nhưng bác sĩ S1 không mua nên T đi ra cùng S đi đến Trung tâm y tế huyện Đ, S đứng ngoài chờ còn T đi vào trong lấy trộm 02 tấm nhận ảnh (IP) và hộp dựng tấm nhận ảnh X-Q (C1) đem đến chỗ S đứng và nhờ S chở đến xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) được 9.000.000 đồng, T trả cho S 400.000 đồng tiền công, sau đó T nhờ S chở đến quán cà phê của K để T chuộc xe cầm trước đó 3.000.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài hết. Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 16 ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, tỉnh Long An kết luận: 02 bộ tấm nhận ảnh (IP) và hộp dựng tấm nhận ảnh X-Q (C1) trị giá 49.600.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 25/4/2022, T điều khiển xe Cub 50 biển số 71AD-017.98 đến Trung tâm y tế thành phố D, tỉnh Bình Dương, T để xe bên ngoài đi bộ vào trong lấy trộm 01 tấm nhận ảnh của máy X-Quang nhãn hiệu IRAY, mã hàng VENU 1717X, xuất xứ Hàn Quốc đem ra xe chở đến Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 02 ngày sau T đọc báo thấy đưa tin trộm cắp tài sản và hình ảnh của T trên báo, thấy tài sản có giá trị lớn, T lo sợ nên ngày 04/5/2022 thuê xe Grap chở 01 tấm nhận ảnh máy chụp X-Q trộm được đến cổng bảo vệ trả cho Trung tâm y tế thành phố D. Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 62 ngày 10/6/2022 của Hội đồng định giá thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 tấm nhận ảnh của máy X-Quang nhãn hiệu IRAY, mã hàng VENU 1717X, xuất xứ Hàn Quốc trị giá 530.000.000 đồng.
Vụ thứ tư: Khoảng 15 giờ ngày 26/4/2022, T điều khiển xe Cub 50 biển số 71AD-017.98 đến Trung tâm y tế huyện D, tỉnh Bình Dương, T để xe bên ngoài cổng đi bộ vào trong phòng chụp X-Q lấy trộm 01 tấm Cassette của máy X-Q nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35,4x43cm và 01 tấm Cassette của máy X-Quang nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35,4x35,4cm đem ra xe chở đến huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) 6.000.000 đồng, số tiền trên T tiêu xài hết. Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 26 ngày 09/8/2022 của Hội đồng định giá huyện D, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 tấm Cassette của máy X-Q nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35,4x43cm trị giá 27.000.000 đồng; 01 tấm Cassette của máy X-Q nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35,4x35,4cm trị giá 22.500.000 đồng. Tổng trị giá: 49.500.000 đồng.
Vụ thứ năm: Khoảng 13 giờ ngày 30/4/2022, T điều khiển xe Cub 50 biển số 71AD-017.98 đến Trung tâm y tế thành phố T, tỉnh Bình Dương, T để xe bên ngoài cổng đi bộ vào trong phòng chụp X-Q lấy trộm 02 cảm biến tấm phẳng X-Quang số hóa đang để trên bàn đem ra xe chở đến Thành phố Hồ Chí Minh tìm địa điểm bán. Khoảng 02 ngày sau, T đọc báo thấy đưa tin trộm cắp tài sản và hình ảnh của T trên báo, thấy tài sản có giá trị lớn, T lo sợ nên thuê xe Grap chở 02 cảm biển tấm phẳng X-Quang số hóa trộm được đến cổng Trung tâm y tế thành phố T trả lại. Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 437 ngày 14/10/2024 của Hội đồng định giá tỉnh Bình Dương kết luận: 02 cảm biến tấm phẳng X-Quang số hóa, tên thương mại: Exprimer, model: EVS 4343, hãng sản xuất: DRTECH (Hàn Quốc) năm sản xuất 2019, trị giá 572.360.000 đồng.
Vật chứng và tài liệu thu giữ trong vụ án: 01 tấm nhận ảnh của máy X-Quang nhãn hiệu IRAY; 01 xe Cub 50 biển số 71AD-017.98 ; số tiền 400.000 đồng; 01 điện thoại di động loại M06, màu xanh-đen; 01 điện thoại di động ViVo 2015, màu xanh-đen.
Tại Bản cáo trạng số: 242/CT-VKS-P2, ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Dương Minh Toàn về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Dương Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đối, bố sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Dương Minh T 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 10 năm 2022.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; về lãi suất chậm thi hành án; về xử lý vật chứng; về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/5/2025, bị cáo Dương Minh T kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu xác định giá trị tài sản do bị cáo trộm của Trung tâm y tế D và Trung tâm y tế T và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Dương Minh T thừa nhận có thực hiện các hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xử. Tuy nhiên, bị cáo yêu cầu xác định lại giá trị tài sản do bị cáo trộm của Trung tâm y tế D, Trung tâm y tế T và số lượng tấm cảm biến X-quang do bị cáo trộm tại Trung tâm y tế T, đồng thời bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Dương Minh T thấy rằng: Việc định giá tài sản được thực hiện đúng theo tố tụng hình sự, do đó bị cáo kháng cáo yêu cầu xác định lại giá trị tài sản bị trộm là không có căn cứ. Đối với kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo chỉ trộm 01 tấm phẳng cảm biến X-quang tại Trung tâm y tế T và tại phiên toà phúc thẩm gia đình bị cáo có nộp bản photo giấy xác nhận của Trung tâm y tế xác nhận chỉ mất một tấm phẳng cảm biến X-quang. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản sự việc xảy ra, cơ quan Trung tâm y tế T xác định tài sản bị mất trộm là 02 tấm phẳng cảm biến X-quang và phù hợp với lời khai của bị cáo. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Xét thấy tại phiên toà phúc thẩm gia đình bị cáo có nộp bản pho to giấy xác nhận của Trung tâm y tế T xác nhận tài sản bị mất trộm là 01 tấm phẳng cảm biến X-quang do đó đề nghị hoãn phiên toà để định giá lại tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Minh T làm trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tài liệu chứng cứ thu giữ được trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 11/4/2022 đến 30/4/2022, Dương Minh T đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản, cụ thể: Phòng khám Đ ở thành phố M, Tiền Giang 02 tấm thu nhận ảnh (Cassette) nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35x43cm trị giá 34.000.000 đồng; Trung tâm y tế huyện Đ, tỉnh Long An 02 bộ tấm nhận ảnh (IP) và hộp dựng tấm nhận ảnh X-Q (C1) trị giá 49.600.000 đồng; Trung tâm y tế huyện D 01 tấm Cassette của máy X- Q nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35,4x43cm trị giá 27.000.000 đồng; 01 tấm Cassette của máy X-Q nhãn hiệu Fujifilm, kích thước 35,4x35,4 cm trị giá 22.500.000 đồng; Trung tâm y tế thành phố D 01 tấm nhận ảnh của máy X- Quang nhãn hiệu IRAY, mã hàng VENU 1717X, xuất xứ Hàn Quốc trị giá 530.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản do bị cáo Dương Minh T trộm cắp là 1.235.460 đồng.
Bị cáo T kháng cáo cho rằng bị cáo chỉ có trộm 01 cảm biến tấm phẳng X-Quang số hóa, tên thương mại: Exprimer, model: EVS 4343, hãng sản xuất: DRTECH (Hàn Quốc) năm sản xuất 2019, kết quả định giá của Hội đồng định giá đối với tài sản là quá cao. Xét lời nại ra của bị cáo là chưa có căn cứ để chấp nhận. Bởi vì:
Tại phiên toà phúc thẩm gia đình bị cáo có nộp Văn bản ghi ngày 12/6/2025 của Trung tâm y tế T xác nhận“Vào thời điểm xảy ra vụ việc liên quan đến hành vi trộm cắp tại trung tâm, đơn vị chỉ mất một tấm cassette (tấm nhận ảnh máy chụp X-quang). Thiết bị bị mất có tên là: Exprimer, model: EVS 4343, hãng sản xuất: DRTECH (Hàn Quốc) năm sản xuất 2019” nhưng là bản photo không có chứng thực sao y bản chính nên chưa đủ căn cứ để xem xét.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo đều thừa nhận đã trộm cắp tài sản tại trung tâm y tế T và không có khiếu nại về số lượng và giá trị tài sản theo biên bản định giá. Đồng thời tại biên bản ngày 27/6/2023 và Văn bản số: 676/TTYT ngày 27/6/2023 (bút lục 570) Trung tâm y tế T có nội dung: “Ngày 30/4/2022 tại Trung tâm ý tế thành phố T xảy ra vụ mất trộm 02 tấm thu nhận ảnh x-quang của khu khám bệnh theo yêu cầu (trị giá 681.500.000đ). Ngày 04/5/2022 đối tượng đã nhờ vận chuyển trả lại 02 tấm thu nhận ảnh x-quang cho đơn vị. Qua sự việc trên trung tâm y tế không yêu cầu bồi thường thiệt hại”; Cùng ngày 27/6/2023 Trung tâm y tế T đã giao nộp một hợp đồng kinh tế và một biên bản bàn giao nghiệm thu đối với 02 cảm biến tấm phẳng X-Quang số hóa, tên thương mại: Exprimer, model: EVS 4343, hãng sản xuất: DRTECH (Hàn Quốc) năm sản xuất 2019 (Bút lục 569). Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự đã định giá và kết luận: 02 cảm biến tấm phẳng X-Quang số hóa, tên thương mại: Exprimer, model: EVS 4343, hãng sản xuất: DRTECH (Hàn Quốc) năm sản xuất 2019, trị giá 572.360.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Dương Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội bị cáo Dương Minh T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, cơ quan tổ chức được pháp luật bảo vệ. Làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, người dân không an tâm lao động, sản xuất. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần phải xử phạt nghiêm để đảm bảo tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện giao trả lại một phần tài sản đã trộm cho các bị hại. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và đã xử phạt bị cáo với mức án 12 năm tù là tương xứng với tính chất mức độ do hành vi nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo yêu cầu xác định lại giá trị tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Dương Minh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về lãi suất chậm thi hành án; về án phí sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Minh T xin giảm nhẹ hình phạt.
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2025/HS-ST ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh) về hình phạt đối với bị cáo Dương Minh T.
- Tuyên bố bị cáo Dương Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Dương Minh T 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/10/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm triệu đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; Về xử lý vật chứng; về lãi suất chậm thi hành án; về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) |