vanban.org

Bản án 223/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử L vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo T 01(một) điện thoại TP-TEL (Model TP-160) màu xanh lá và 01(một) căn cước công dân mang tên Hoàng Phan Minh T (Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 13/9/2023 giữa Cơ quan … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Phan Minh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số:223/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Văn Tuyên

+ Ông Păng Ting Nôck

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị H - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số 246/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2023/QĐXXST - HS ngày 14/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Phan Minh T, sinh năm: 1991, tại: QN; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 44, Phường Hòa Minh, Quận L Ch, Thành phố ĐN; nơi cư trú: Thôn Long Thành Đông, xã Tam H, Huyện Núi Thành, Tỉnh QN; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao Động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Hồng H, sinh năm: 1956 và bà: Phan Thị Hồng L, sinh năm 1962 (đã chết); chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 04/07/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; địa chỉ: Số 18 Tr B Tr, Phường 5, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị H Tr, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 04 L T Tr, Phường 2, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Bị cáo có mặt, bà M có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Tr vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Phan Minh T là đối tượng không có việc làm và nơi cư trú ổn định. Ngày 02/7/2023, T đi xe khách từ thị xã Điện Bàn, tỉnh QN vào thành phố ĐL, tỉnh LĐ để tìm việc làm. Đến 06 giờ ngày 03/7/2023, T đến thành phố ĐL và thuê phòng tại khách sạn “Newday” ở số 80 T H Th, Phường 3, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ đen, mang biển số 49T2-1157của bà Ngô Thị H Tr, sinh năm 1967 (chủ khách sạn Newday) để đi chơi và tìm chỗ ăn uống thì bà Tr đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 45 phút, T đi đến quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968, ở số 18 Tr B Tr, Phường 5, Thành phố ĐL để mua nước uống. T dựng xe sát lề đường rồi đi vào quán thì thấy phòng khách bên cạnh quán tạp hóa không đóng cửa, trên bàn trong phòng khách có để một máy tính bảng nhãn hiệu Apple, màu vàng, không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính bảng này để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, T đi vào trong phòng khách, dùng tay pH lấy trộm máy tính bảng rồi đi ra ngoài thì bị bà M phát hiện tri hô “ăn cắp, ăn cắp” nên T cầm máy tính bảng trên tay chạy ra bên ngoài chỗ để xe, ngồi lên định nổ máy bỏ chạy thì bị bà M kéo lại. Vì lo sợ bà M cùng người dân bắt lại nên T đã bỏ máy tính bảng và xe mô tô lại trên đường, chạy bộ về hướng cây xăng Tr B Tr rồi bắt xe về lại khách sạn “Newday”. Khi về tới khách sạn, bà Tr hỏi T về xe mô tô thì T nói xe bị tai nạn giao thông, qua ngày mai mới giải quyết lấy xe về được. Đến khoảng 7 giờ 30, ngày 04/7/2023, T đến Công an Phường 5 đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội (BL 63-67, 70-75, 80-81, 88-90, 92-94).

Tang vật thu giữ:

- 01 điện thoại TP-TEL (Model TP-160) màu xanh lá

- 01 căn cước công dân số 04909100199mang tên Hoàng Phan Minh T;

- 01 máy tính bảng hiệu Apple màu vàng, dung lượng 32GB;

- 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ đen, biển số 49T2-1157(BL 68, 78)

Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; HKTT: số 18 Tr B Tr, phường 5, thành phố ĐL, tỉnh LĐ, bị chiếm đoạt 01 máy tính bảng hiệu Apple, màu vàng, dung lượng 32GB. Tại Kết luận định giá số 107/KL-ĐG ngày 07/72023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định chiếc máy tỉnh bảng trên trị giá 3.500.000đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL đã ra Quyết định xử L vật chứng trả lại tài sản trên cho bà M, bà M không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL 84-86).

Người liên quan: Bà Ngô Thị H Tr, sinh năm 1967, HKTT: số 04 L T Tr, phường 2, thành phố ĐL, là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ đen, mang biển số: 49T2-1157. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL đã trả lại chiếc xe trên cho bà Tr, bà Tr không có yêu cầu gì khác (BL 82, 83).

Tại bản cáo trạng số 240/CT-VKS ngày 13/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Hoàng Phan Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, cáo Hoàng Phan Minh T khai nhận, vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 03/7/2023, tại số 18 Tr B Tr, Phường 5, Thành phố ĐL, T đã lén lút trộm cắp 01 máy tính bảng hiệu Apple, màu vàng thì bị phát hiện nên T đã bỏ máy tính bảng và xe mô tô lại trên đường để chạy trốn. Đến ngày 04/7/2023, T đến Công an Phường 5 đầu thú như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Phan Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Phan Minh T từ 08 (tám) tháng 18 (M tám) ngày đến 11 (M một) tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử L vật chứng: Đề nghị trả cho bị cáo 01 điện thoại TP-TEL (Model TP-160) màu xanh lá và 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Phan Minh T;

Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Phan Minh T: Từ thị xã Điện Bàn, Tỉnh QN vào thành phố ĐL, tỉnh LĐ để tìm việc làm, ngày 03/7/2023, T đến thành phố ĐL và thuê phòng tại khách sạn “Newday” ở số 80 T H Th, Phường 3, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ đen, mang biển số 49T2-1157của chủ khách sạn Newday để đi chơi và tìm chỗ ăn uống. Đến khoảng 20 giờ 45 phút, T đi đến quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị M, ở số 18 Tr B Tr, Phường 5, Thành phố ĐL để mua nước uống. Khi T vào quán thì thấy phòng khách bên cạnh quán tạp hóa không đóng cửa, trên bàn trong phòng khách có để một máy tính bảng nhãn hiệu Apple, màu vàng, không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính bảng này để bán lấy tiền tiêu xài. T đi vào trong phòng khách, lấy chiếc máy tính bảng rồi đi ra ngoài thì bị bà M phát hiện tri hô “ăn cắp, ăn cắp” nên T cầm máy tính bảng trên tay chạy ra bên ngoài chỗ để xe, ngồi lên định nổ máy bỏ chạy thì bị bà M kéo lại. Vì lo sợ bà M cùng người dân bắt lại nên T đã bỏ máy tính bảng và xe mô tô lại trên đường, chạy bộ về hướng cây xăng Tr B Tr rồi bắt xe về lại khách sạn “Newday”. Đến khoảng 7 giờ 30, ngày 04/7/2023, T đến Công an Phường 5 đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do T thực hiện.

Chiếc máy tính bảng do bị cáo T chiếm đoạt có giá trị 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng).

Xét thấy, bị cáo Hoàng Phan Minh T là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa pH. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Phan Minh T phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 240/CT-VKS ngày 13/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi bị phát hiện đã ra đầu thú và bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án; tiền sự; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn nên không cần thiết cách ly mà cho bị cáo được cải tạo tại địa pH theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) máy tính bảng hiệu Apple, màu vàng, dung lượng 32GB, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị M. Bà M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.

Đối với bà Ngô Thị H Tr, là người đã cho Hoàng Phan Minh T mượn xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 49T2-1157. Quá trình điều tra xác định bà Tr không biết việc T mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Tr nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không đề cập xem xét.

Về xử L vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại TP-TEL (Model TP-160) màu xanh lá và 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Phan Minh T, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo T pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Phan Minh T 08 (tám) tháng 18 (M tám) ngày cải tạo không giam giữ, được trừ vào thời gian đã bị bắt, tạm giam 02 tháng 26 ngày (từ ngày 04/7/2023 đến ngày 27/9/2023). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

Căn cứ khoản 3 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Hoàng Phan Minh T ngay tại phiên tòa nếu như bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ về một hành vi phạm tội nào khác.

2. Về xử L vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo T 01(một) điện thoại TP-TEL (Model TP-160) màu xanh lá và 01(một) căn cước công dân mang tên Hoàng Phan Minh T

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 13/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo T pH chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:Trong thời hạn 15 (M lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án./.

Cỡ chữ