vanban.org

Bản án 223/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Nư Như Q phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2022/HS-ST
Ngày: 27/12/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Xuân Tuất

2. Ông Nguyễn Đình Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 223/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Trịnh Nữ Như Q, sinh năm 1977. Tại Đồng Nai. Nơi cư trú: thôn Bắc Hợp, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: công nhân. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trịnh T, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Na, sinh năm 1945. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có chồng tên Lâm Thành Đ (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008 (đã chết), con nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/7/2022, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đ.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Nữ Như Q là công nhân làm việc tại bộ phận Nos B3 của Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V – KCN Sông Mây, xã Bn, huyện T, tỉnh Đ (gọi tắt là Công ty Việt V). Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý của Công ty Việt V về việc đổi kim may bị gãy cho các công nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến ngày 16/7/2022, Q đã lén lút trộm cắp 217 (hai trăm mười bảy) vỉ kim máy may loại ORGAN NEEDLES (mỗi vỉ có 10 cây kim) đem cất giấu tại vị trí làm việc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Q lấy 217 (hai trăm mười bảy) vỉ kim đã trộm bỏ vào túi xách bằng da, màu đen đưa về nhà để sử dụng, khi Q ra đến cổng Công ty Việt V thì bị anh Lương Bạch Đ (bảo vệ công ty) kiểm tra phát hiện báo Công an Đồn khu công nghiệp Hố Nai – Sông Mây. Sau khi tiếp nhận, Công an đồn Khu Công Nghiệp Hố Nai – Sông Mây đã lập hồ sơ, bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu định giá đối với 217 vỉ kim máy may loại ORGAN NEEDLES. Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KL –HDĐGTS ngày 18/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Trảng Bom kết luận: 217 vỉ kim máy may loại ORGAN NEEDLES chưa qua sử dụng có trị giá là 5.139.645 đồng (Năm triệu một trăm ba mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng).

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) túi xách bằng da, màu đen bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 217 (hai trăm mười bảy) vỉ kim máy may loại ORGAN NEEDLES (mỗi vỉ có 10 cây kim). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã thu hồi và trả lại cho Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V.

* Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại cáo trạng số: 228/CT/VKS-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Trịnh Nữ Như Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 (sáu) tháng đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong phần bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:

Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 16/7/2022, tại Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V, Trịnh Nữ Như Q đã có hành vi lén lút trộm cắp 217 (hai trăm mười bảy) vỉ kim máy may loại ORGAN NEEDLES (mỗi vỉ có 10 cây kim) chưa qua sử dụng, trị giá 5.139.645 đồng (Năm triệu một trăm ba mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) của Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa là thống nhất, phù hợp nhau và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo có đủ nhận thức và biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về bồi thường dân sự: Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) túi xách bằng da, màu đen bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 217 (hai trăm mười bảy) vỉ kim máy may loại ORGAN NEEDLES (mỗi vỉ có 10 cây kim). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã thu hồi và trả lại cho Công ty TNHH Giầy Đồng Nai Việt V.

Về quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Nữ Như Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trịnh Nữ Như Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trịnh Nữ Như Q cho Uỷ ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Cỡ chữ