vanban.org

Bản án 223/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Trần Đức M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2021. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức M bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH D
——————————
Bản án số: 223/2021/HS-ST
Ngày 23-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH D

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 248/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2021/QĐXXST-HS ngày 06/9/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2021/HSST-QĐ ngày 16/9/2021 đối với bị cáo:

Trần Đức M, sinh năm: 1997 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Ấp M, xã M, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: số A khu phố B, phường A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Trần Văn Th, sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị M T, sinh năm: 1965; bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2021, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị hại: Anh Đào Ngọc D, sinh năm 1992; thường trú: Xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: Số nhà B khu phố B, phường A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn L, sinh năm 1992; thường trú: Xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: Số nhà B khu phố B, phường A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/5/2021, Trần Đức M điều khiển xe mô tô Yamaha FZ150, biển số: 68D1-611.88 đi từ phòng trọ của mình tại địa chỉ A khu phố B, phường A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D đến tiệm điện thoại “Linh Kiện Phương Linh” tại địa chỉ số B khu phố B, phường A, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D, để mua màn hình điện thoại Sam Sung về sửa. Tại đây M gặp nhân viên Đào Ngọc D đang đứng bán hàng M yêu cầu anh D lấy 01 màn hình điện thoại SamSung J7 cho M xem để mua, anh D lấy 01 màn hình điện thoại SamSung J7 đưa M xem, khi M đang đứng xem màn hình điện thoại thì anh D đặt chiếc điện thoại Iphone XS Max màu trắng có gắn sim số 0333.003.002 đang cầm trên tay xuống mặt tủ kính rồi đi vào bên trong làm việc nhà (đây là điện thoại anh L – chủ tiệm điện thoại đưa cho D để phục vụ công việc bán hàng). Lợi dụng lúc anh D vào bên trong nhà, M lén lút lấy trộm điện thoại Iphone XS MAX bỏ vào túi quần của mình và để lại điện thoại Oppo F1s bị hư màn hình của mình trên tủ kính rồi ra ngoài lấy xe chạy đến quán cà phê Góc Phố tại khu phố Bình Đường 4, phường An Bình, thành phố Dĩ An ngồi uống cà phê. Tại đây, M tháo sim 0333.003.002 trong điện thoại ra, lắp sim 0878.953.204 của mình vào điện thoại đồng thời đặt password là 151068 để sử dụng. Sau khi bị mất điện thoại anh D bật định vị tìm điện thoại phát hiện vị trí điện thoại tại quán cà phê Góc Phố nên anh D trình báo cho Công an phường An Bình và cùng đi đến vị trí định vị, phát hiện M đang ở trong quán cà phê và sử dụng điện thoại vừa trộm cắp được. Công an phường An Bình tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Đức M, thu giữ vật chứng lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ kết luận giám định tài sản số 71/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 25/5/2021 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone XS Max màu trắng giá trị 9.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại Iphone XS MAX màu trắng; 01 điện thoại Oppo F1S màu vàng đồng bị hư màn hình; 01 xe mô tô Yamaha FZ150i biển số: 68D1-611.88 (số khung: MH3RG1110EK004984; Số máy: G3D1E004990); 01 sim số 0878.953.204 và 01 sim 4G Viettel số thuê bao là: 0333.003.002.

Tại cáo trạng số 267/CT – VKS ngày 27 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D truy tố bị cáo Trần Đức M về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức M mức án từ 07 (bảy) đến 10 (mười) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại Iphone XS MAX màu trắng và sim 4G Viettel số thuê bao là: 0333.003.002 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại cho anh Đào Ngọc D là đúng quy định.

Đối với 01 chiếc xe mô tô Yamaha FZ150 biển số: 68D1-611.88 (số khung: MH3RG1110EK004984; Số máy: G3D1E004990) qua xác M chủ sở hữu là Trần Đức M, chiếc xe này M dùng làm phương tiện phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tịch thu, sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định.

Đối với sim số 0878.953.204 mà Trần Đức M dùng để thay vào máy điện thoại Apple Iphone XS MAX màu trắng, đây là phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Oppo F1S màu vàng đồng bị hư màn hình thu giữ không liên quan đến vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại cho anh Trần Đức M là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản anh Đào Ngọc D không yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự nên viện kiểm sát không đặt ra xem xét.

Do bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nên không thực hiện tranh luận.

Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị hại anh Đào Ngọc D đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật, tài sản bị chiếm đoạt anh đã được nhận lại nên không có ý kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Văn L không có ý kiến về tài sản.

Trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 290, 292 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 08 giờ ngày 22/5/2021, tại tiệm điện thoại “Linh Kiện Phương Linh” có địa chỉ số 237 khu phố Bình Đường 3, phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D bị cáo Trần Đức M đã lợi dụng sự sơ hở của anh Đào Ngọc D lén lút chiếm đoạt một điện thoại Iphone XS MAX màu trắng có gắn sim 4G Viettel số thuê bao là: 0333.003.002 trị giá 9.500.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Kết luận định giá tài sản, Biên bản xác định địa điểm, Sơ đồ hiện trường... Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 267/CT – VKS ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình D và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Vật chứng: Đối với 01 điện thoại Apple Iphone XS MAX màu trắng và sim 4G Viettel số thuê bao là: 0333.003.002 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại cho anh Đào Ngọc D là đúng quy định.

- Xe mô tô Yamaha FZ150 biển số: 68D1-611.88 (số khung: MH3RG1110EK004984; Số máy: G3D1E004990) là của bị cáo, bị cáo sử dụng chiếc xe này làm phương tiện phạm tội nên cần tuyên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với sim số 0878.953.204 mà Trần Đức M dùng để thay vào máy điện thoại Apple Iphone XS MAX màu trắng, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại Oppo F1S màu vàng đồng bị hư màn hình thu giữ không liên quan đến vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại cho Trần Đức M là đúng quy định.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Đức M 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2021.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim số 0878.953.204.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô YYamaha

FZ150i

biển

số:

68D1-611.88

(số

khung: MH3RG1110EK004984; Số máy: G3D1E004990)

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2021 – BL số 82)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Đức M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ