- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thu T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 223/2020/HS-ST Ngày: 30/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hiên
Ông Nguyễn Văn Sơn
- Thƣ ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Khuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Thu T, sinh năm 1983; HKTT và chỗ ở: số …., tổ …, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Ngọc S, sinh năm 1963 (đã chết) và bà: Hoàng Kim Th, sinh năm 1963; Có chồng là Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1984); Có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2014; Danh chỉ bản số 250, lập ngày 19/02/2020 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1958; HKTT: số ..., tổ ..., phường H, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 09/10/2019 Trần Thu T đi mua phở tại quán của bà Ngô Thị L tại tổ 36 phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội, T thấy bà L để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng rất hớ hênh cạnh chỗ bán hàng nên khoảng 09 giờ ngày 13/10/2019 T cùng chồng là Nguyễn Văn T1 đến quán phở của bà L ăn sáng. Trong quá trình ăn, T nói với T1 “chị chủ quán có để điện thoại trong tủ kính bán hàng, anh gọi chị ý vào thanh toán tiền để em lấy điện thoại”. T1 hiểu ý liền gọi bà L vào thanh toán tiền thì T đứng dậy đi ra chỗ tủ kính để điện thoại quan sát mọi người không để ý T thò tay với lấy chiếc điện thoại của bà L đút vào túi quần trước bên trái rồi đi thẳng ra chỗ để xe máy đợi T1 đi ra. Khi ra xe T1 nổ máy chở T đi luôn.
Khoảng 11 giờ ngày 13/10/2019 chị Nguyễn Thị Kim N (sinh năm 1973; HKTT: .., quận H, Hà Nội) đang đứng mua hoa tại đối diện số 117 đường Lĩnh Nam, tổ 29, phường Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội. Chị N để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng tại hộc bên trái dưới bệ đầu xe máy. Khi chị N đang mua hoa không để ý thì Nguyễn Văn T1 điều khiển xe máy chở theo Trần Thu T dừng áp sát bên trái xe chị N. T1 thò tay lấy trộm điện thoại của chị N rồi phóng đi, khi đó chị bán hoa thấy vậy bảo chị N “điện thoại kìa” và chỉ về hướng T1 và T bỏ chạy. Chị N phóng xe máy đuổi theo. Khi đến số 153 Dương Văn Bé, chị N nhờ được 2 nam thanh niên đi xe máy cùng chiều chặn xe máy của T1 và T, lúc này T1 lấy kéo treo ở đầu xe ra dọa rồi phóng xe máy bỏ chạy nên mọi người chỉ giữ được T và đưa về cơ quan công an làm việc.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Trần Thu T khai nhận: Trước ngày trộm cắp tài sản khoảng 4-5 ngày, T có đến mua phở tại khu vực tổ 36 phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội và thấy chủ quán phở có để 01 điện thoại di động Iphone 6 hớ hênh tại chỗ bán hàng. Khoảng 09 giờ ngày 13/10/2019, Nguyễn Văn T1 điều khiển xe máy Wave BKS: 29N1-308.23 chở T từ nhà ở số ..., tổ .., quận H, Hà Nội. T rủ T1 vào quán phở trên. Sau khi ăn xong, T bảo T1 “Chủ quán có điện thoại để trong tủ kính bán hàng, anh gọi chị ấy vào thanh toán để em lấy điện thoại”. T1 hiểu ý và gọi chủ quán tính tiền. Lúc này T đi ra trước, quan sát không ai để ý, thò tay vào tủ kính lấy 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng rồi đút vào túi quần và đi ra chỗ để xe máy. Khi T1 ra, cả hai nổ xe máy đi luôn và đi về hướng khu vực đường Lĩnh Nam. Khoảng 11 giờ, khi đi đến khu vực phố Vĩnh Hưng có 03 người bán hoa, T1 dừng xe ở hàng hoa có 01 người phụ nữ mua hoa đang ngồi trên xe máy trả tiền và bảo T xuống mua hoa. Khi T đang chuẩn bị bước xuống thì T1 lại bảo thôi không mua nữa rồi phóng xe đi rất nhanh. T hỏi T1 sao đi nhanh vậy thì T1 bảo vừa lấy trộm được 01 điện thoại di động của người mua hoa. Khi T1 điều khiển xe chở T đi đến đường Dương Văn Bé thì có chị N cùng 01 nam giới chặn xe của T1. Chị N lôi T xuống xe và yêu cầu T1 trả lại điện thoại. T1 rút 01 cái kéo ở túi nilon treo ở gần yếm xe ra và khua vào trước mặt mọi người, dọa rồi lên xe bỏ chạy. T khai không biết việc T1 trộm chiếc điện thoại di động của chị N.
Tạm giữ của T: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng, số Imei: 354434060244913 là chiếc điện thoại trộm cắp của bà L; 01 điện thoại di động Phillips màu đen, số Imei1: 867582036820875, số imei 2: 867582037073375 là điện thoại của T dùng để liên lạc hàng ngày; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đen xám, số Imei: 359307062947763 là T nhặt được ở khu vực đường Lê Thanh Nghị, không nhớ chính xác địa chỉ.
Bà Ngô Thị L có đơn trình báo về việc bị mất chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng vào ngày 13/10/2020 tại tổ 36, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tại cơ quan điều tra bà Ngô Thị L trình bày sự việc bị trộm cắp tài sản, bà L xác định chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng trắng cơ quan công an thu giữ của T là chiếc điện thoại bị mất trộm ngày 13/10/2019 và đã nhận ra T chính là người phụ nữ bụng bầu đã lấy trộm chiếc điện thoại.
Tiến hành dẫn giải Trần Thu T đã xác định được vị trí quán phở nơi T trộm cắp điện thoại của bà L tại tổ 36, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Trích xuất dữ liệu camera tại nơi bà L bán phở, đã thu được hình ảnh T trộm cắp tài sản. T đã xác nhận hình ảnh này.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 198/HĐĐG ngày 15/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng, số imei: 354434060244913, có giá trị là 2.200.000 đồng.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 353815081078341 (của chị Nguyễn Thị Kim N), Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận, có giá trị là 6.400.000 đồng.
Kiểm tra điện thoại Iphone 6 màu vàng trắng, số thuê bao 0984090597, Facebook tên L Ngô, Zalo tên L.
Quá trình điều tra vụ án, do bị can Nguyễn Văn T1 và Trần Thu T bỏ trốn nên ngày 16/01/2020 cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai đã ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn T1 và Trần Thu T.
Ngày 19/02/2020 T đến cơ quan công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Hiện chưa bắt được bị can Nguyễn Văn T1, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Nguyễn Văn T1 về tội Trộm cắp tài sản và ra quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi của bị can Nguyễn Văn T1.
Bà Ngô Thị L đã nhận lại điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng, số Imei: 354434060244913 và không có yêu cầu về bồi thường dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 227/CT-VKS-HM ngày 24 tháng 6 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Trần Thu T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Thu T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại tại quán phở của bà L như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Thu T từ 8 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Philips màu đen và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đen xám.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; tang vật thu giữ; bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 9 giờ, ngày 13/10/2019 tại tổ 36, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Trần Thu T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng trắng có giá trị 2.200.000 đồng của bà Ngô Thị L. Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Hành vi của bị cáo Trần Thu T đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lén lút trộm cắp tài sản của người bị hại. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: Bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội là phụ nữ có thai là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, i, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét mặc dù nhân thân của bị cáo T không có tiền án, tiền sự và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án bị cáo T bỏ trốn nên ngày 16/01/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định truy nã số 04 đối với bị cáo. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo T thuộc trường hợp không cho hưởng án treo nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai không có căn cứ để chấp nhận.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Thu T là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Ngô Thị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Trần Thu T phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Philips màu đen, số Imei1: 867582036820875, số imei2: 867582037073375, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đen xám, số Imei: 359307062947763, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Trần Thu T 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Thu T.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Trần Thu T 01 điện thoại Philips màu đen, số Imei1: 867582036820875, số Imei2: 867582037073375, đã qua sử dụng và 01 điện thoại Iphone 6 màu đen xám, số Imei: 359307062947763, đã qua sử dụng.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Phiếu nhập kho số NK2020-00268 ngày 26/6/2020).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Thu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thu T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hoàng Mai; - Cơ quan CSĐT Công an quận Hoàng Mai; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; - UBND phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Phƣơng Minh |