- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Q ly hôn chị T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 223/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23-4-2019 V/v: Ly hôn giữa anh Q và chị T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản;
Bà Trịnh Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Anh Q, sinh năm 1991; nơi cư trú: số nhà 216 đường Tô Hiến T, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991; nơi cư trú: số nhà 216 đường T, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn là anh Trần Anh Q có mặt, bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh Th vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14-01-2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Trần Anh Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thanh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 30-11-2011 tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Bản thân chị T đi làm sớm về muộn, giờ giấc thất thường, không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Từ đầu tháng 2-2019 chị T đã đưa con Trần Bảo N về gia đình bố mẹ đẻ của chị sinh sống. Anh xác định cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Trần Nhật M, sinh ngày 08-6-2012 và Trần Bảo N, sinh ngày 16-4-2015. Hiện nay cháu M đang ở với anh, cháu N đang ở với chị T. Ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, còn cháu N còn nhỏ đề nghị giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Q không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị T không đến Tòa án làm bản tự khai và không tham gia các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa chị T vẫn vắng mặt. Do đó, chị T không có quan điểm giải quyết vụ án.
Biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 22-01-2019, chính quyền địa phương nơi anh Q và chị T sinh sống cung cấp: Vợ chồng anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại số nhà 216 đường T, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống của hai bên có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Về con chung, anh Q và chị T có 02 con là Trần Nhật M, sinh năm 2012 và Trần Bảo N, sinh năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa anh Q và chị T.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Trần Nhật M, sinh ngày 08-6-2012 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16-4-2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Trần Anh Q không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị Thanh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 11 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống của anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Đối với chị T, Tòa án đã triệu tập nhưng chị T không đến tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa chị T vắng mặt không có lý do thể hiện việc chị T không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng. Tại phiên tòa anh Q giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn với chị T. Xét mâu thuẫn của vợ chồng anh Q và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T có 02 con chung là Trần Nhật M, sinh ngày 08-6-2012 và Trần Bảo N, sinh ngày 16-4-2015. Hiện nay cháu M đang ở với anh Q, cháu N đang ở với chị T. Vì vậy, để đảm bảo cho sự ổn định sinh hoạt và sự phát triển tốt của các cháu, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu M cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Trần Anh Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí ly hôn: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là anh Trần Anh Quân phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T.
2. Về nuôi con:
- Giao con Trần Nhật M; giới tính: nam; sinh ngày 08-6-2012 cho anh Trần Anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Giao con Trần Bảo N; giới tính: nữ; sinh ngày 16-4-2015 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Anh Trần Anh Q và chị Nguyễn Thị Thanh T đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Trần Anh Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Q đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000483 ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Anh Trần Anh Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - UBND xã M, TP. N; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |