- Tranh chấp gì? án hình sự — "223 - 2018- Le Hoang V - K1-171 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào Khoản 1 Điều 171; điểm b điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017);
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 223/2018/HS-ST Ngày: 26-11-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Đặng Thu Vân.
2/ Ông Hoàng Minh Đang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 n m 2018 t i tr s Tòa án nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 167/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 8 n m 2018 theo quyết định đưa v án ra xét xử số 257/2018/QĐXXST-HS ngày 12/11/2018 đối với bị cáo:
Lê Hoàng V, sinh ngày 16/9/1989 t i: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Nơi đ ng ký nhân khẩu thường trú: Số 316/7 đường 30 KP1 phường TQ, Quận B Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Bốc xếp; trình độ v n hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ph m V n Z và bà Lê Thị Ngọc H; vợ: Nguyễn Thị L (sinh n m: 1990); con: Có 01 người con (sinh n m: 2010); tiền án tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt t m giam ngày 24/4/2018. (Có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Y sinh n m: 1963; nơi cư trú: Số 35C RC, Phường B1, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Quang Tr, sinh n m: 1960; nơi cư trú: Số 35C RC, Phường B1, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh – Là chủ doanh nghiệp tư nhân thương m i Diễm Y địa chỉ tr s : Số 35C RC, Phường B1, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Lê Hoàng V nảy sinh ý định chiếm đo t tài sản của người khác đem bán lấy tiền. Thực hiện ý định trên V đến khu vực chợ BĐ, Phường B1, Quận T mua 02 bịch bột dùng chiên tôm và 01 xấp tiền âm phủ (lo i mệnh giá 200.000 đồng) dùng cho việc thực hiện ý định trên.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/4/2018 V điều khiển xe gắn máy biển số 67K8-5886 đi ngang qua tiệm vàng Diễm Y (số 35C RC, Phường B1, Quận T) thì thấy khu vực này vắng người qua l i bên trong tiệm chỉ có một mình bà Nguyễn Thị Y (chủ tiệm) nên V dựng xe trước cửa tiệm rồi đi vào gặp bà Y hỏi mua 01 chiếc lắc đeo tay bằng vàng 18K trọng lượng 9 81 chỉ với giá 23.940.000 đồng. Sau khi V đeo thử chiếc lắc vào tay trái thì bà Y yêu cầu V đưa l i chiếc lắc cho bà Y để cân và tính tiền thì V đồng ý. Khi bà Y đang ghi phiếu tính tiền thì V yêu cầu bà Y đưa l i chiếc lắc để V đeo thử vào tay phải thì bà Y đồng ý. Sau khi đeo xong chiếc lắc vào tay phải thì V bất ngờ dùng tay phải đưa vào túi áo khoác lấy ra 01 bịch bột dùng chiên tôm và ném thẳng vào mặt bà Y, sau đó ch y ra chỗ để xe và nổ máy xe định tẩu thoát nhưng xe không nổ máy. Lê Hoàng V bị bà Y đuổi kịp dùng tay nắm tay áo của V kéo l i thì V gỡ tay bà Y ra khỏi tay áo rồi bỏ ch y bộ tẩu thoát về hướng chợ BĐ, Phường B1, Quận T và bỏ l i hiện trường chiếc xe gắn máy biển số 67K8-5886.
Bị chiếm đo t tài sản bà Y đến Công an Phường B1, Quận T trình báo sự việc và khai khi bị V ném bột chiên tôm vào mặt thì mắt bà Y vẫn nhìn thấy rõ bình thường không bị mờ mắt vùng mặt mắt không bị nóng rát không ảnh hư ng gì đến sức khỏe; nên bà Y vẫn tri hô và đuổi theo bắt giữ Lê Hoàng V.
Đối với V sau khi chiếm đo t được tài sản V mang đến tiệm vàng Hoàng Kim Lợi số F12B/68 ấp 6 xã Hưng Long huyện BC Thành phố Hồ Chí Minh bán cho chị Nguyễn Thảo Uyên Ph với giá 16.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.
Qua điều tra truy xét đến 16 giờ cùng ngày 19/4/2018 Công an Quận T bắt giữ được Lê Hoàng V.
T i cơ quan điều tra, Lê Hoàng V đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như trên.
Ngày 20/4/2018 đ i diện gia đình Lê Hoàng V đã bồi thường cho bị h i số tiền 23.940.000 đồng và bị h i làm đơn bãi n i cho Lê Hoàng V.
Đối với chủ tiệm vàng Hoàng Kim Lợi là chị Nguyễn Thảo Uyên Ph, khi mua chiếc lắc vàng do Lê Hoàng V bán thì không biết đây là tài sản do V ph m tội mà có nên sau khi mua chiếc lắc vàng chị Uyên Ph đã nấu chiếc lắc trên thành vàng c c và mang đi gia công làm sản phẩm vàng mới và bán cho khách hàng; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không thu hồi được và không xử lý.
Vật chứng khác có liên quan trong v án được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T thu giữ:
- 01 cọc tiền âm phủ được quấn b ng keo màu vàng 01 bịch nylon bên trong chứa một ít bột chiên tôm màu trắng đ c, 01 nón bảo hiểm màu xanh đen 01 áo khoác vải màu đen 01 đôi dép kẹp màu đen 01 quần tây xanh màu xanh đen 01 khẩu trang y tế màu xanh và 01 gói nylon chứa bột chiên tôm màu trắng đ c (do Lê Hoàng V để l i hiện trường sau khi thực hiện việc ph m tội).
- 01 hóa đơn bán vàng ngày 19/4/2018 của tiệm vàng Diễm Y ghi 01 lắc vàng trọng lượng 9 81 chỉ, giá 23.940.000 đồng cùng 01 USB màu đỏ hiệu Kingston dung lượng 8GB bên trong chứa dữ liệu hình ảnh của Lê Hoàng V khi đến giao dịch mua vàng và chiếm đo t chiếc lắc vàng (do bà Y giao nộp).
- 01 chiếc xe gắn máy mang biển số: 67K8-5886: Qua xác minh chiếc xe mang biển số: 67K8-5886 có số khung: 035320 số máy: 035320; thuộc sỡ hữu của ông Bùi Quang T1 (sinh n m: 1970 ĐKTT: ấp Hòa Hưng xá HBT huyện CT tỉnh AG) hiện ông T1 vẫn đang sử d ng chiếc xe này từ trước đến nay.
Quá trình điều tra giám định thì chiếc xe gắn máy mang biển số: 67K8-5886 có số máy: ZS150FMG-2-21002746 (nhưng không tìm thấy số máy này trong dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm), Số khung: Không có; biển số là biển số giả.
Ngày 06/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đã ra công v n đ ng báo truy tìm chủ s hữu của xe gắn máy có số máy: ZS150FMG-2-21002746 số khung: Không có; nhưng đến nay vẫn chưa tìm được chủ s hữu.
Lê Hoàng V khai chiếc xe gắn máy Wave 110s màu đen, mang biển số: 67K8-5886 số khung: không có số máy: ZS150FMG-2-21002746 và các vật d ng gồm: 02 cây búa 01 con dao rọc giấy cán nhựa màu xanh 01 bình xịt phòng hiệu Glade nắp nhựa màu hồng là của người b n quen biết ngoài xã hội tên Lợi (không rõ lai lịch). Do Lợi thiếu tiền V nên Lợi giao cho V chiếc xe gắn máy trên để V sử d ng và Lợi sẽ chuộc l i chiếc xe sau khi trả tiền cho V. Các vật d ng: 02 cây búa 01 con dao rọc giấy cán nhựa màu xanh 01 bình xịt phòng hiệu Glade nắp nhựa màu hồng là tài sản của Lợi để sẵn trong cốp xe, V không biết).
Bản cáo tr ng số 171/CT-VKS ngày 13/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hoàng V về tội “Cướp tài sản” theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).
T i phiên tòa sau khi kết thúc việc xét hỏi t i phần tranh luận Kiểm sát viên giữ quyền công tố t i phiên tòa đã kết luận và thay đổi tội danh truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng V từ tội “Cướp tài sản” theo quy định t i Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) sang tội “Cướp giật tài sản” theo quy định t i Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp d ng Khoản 1 Điều 171; điểm b điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) để xử ph t bị cáo Lê Hoàng V mức án từ 01 (Một) n m 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) n m tù. Đồng thời đề nghị miễn phần hình ph t bổ sung cho bị cáo (do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó kh n khó thi hành).
- Về trách nhiệm dân sự: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe 67K8 – 5886, 01 cọc tiền âm phủ được quấn b ng keo màu vàng 01 bịch nylon bên trong chứa một ít bột chiên tôm màu trắng đ c 01 USB (màu đỏ, hiệu Kingston dung lượng 8GB), 01 nón bảo hiểm màu xanh đen 01 áo khoác vải màu đen 01 đôi dép kẹp màu đen 01 quần tây xanh màu xanh đen 01 khẩu trang y tế màu xanh và 01 gói nylon chứa bột chiên tôm màu trắng đ c 02 cây búa, 01 con dao rọc giấy cán nhựa màu xanh 01 bình xịt phòng hiệu Glade có nắp nhựa màu hồng.
+ Tịch thu lưu hồ sơ v án 01 hóa đơn bán vàng ngày 19/4/2018 của tiệm vàng Diễm Y (ghi 01 lắc vàng trọng lượng 9 81 chỉ giá 23.940.000 đồng).
+ Đối với chiếc xe gắn máy lo i Wave 110s màu đen mang biển số 67K8 – 5886 (biển số giả) số khung: Không có số máy: ZS150FMG-2-21002746 (không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm) mà bị cáo V sử d ng làm phương tiện di chuyển để ph m tội. Đây là phương tiện cấm lưu hành nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
T i phiên tòa bị cáo Lê Hoàng V đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đo t tài sản (là 01 chiếc lắc đeo tay bằng vàng 18K trọng lượng 9 81 chỉ với giá 23.940.000 đồng) của bị h i là bà Nguyễn Thị Y, vào khoảng hơn 12 giờ 30 phút ngày 19/4/2018 t i tiệm vàng Diễm Y (số 35C RC, Phường B1, Quận T Thành phố Hồ Chí Minh).
Lời khai nhận của bị cáo cơ bản phù hợp với nội dung đã miêu tả trong Cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.
Tài sản mà bị cáo V chiếm đo t thuộc trường hợp tài sản có giá trị dưới 50.000.000 đồng (N m mươi triệu đồng). Do đó với diễn biến của hành vi ph m tội và trị giá tài sản chiếm đo t đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Lê Hoàng V đã ph m vào tội “Cướp giật tài sản” tội ph m và hình ph t được quy định t i Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, n n n hối cải về lỗi lầm của mình; sau khi ph m tội đã tích cực tác động đến gia đình để bồi thường thiệt h i cho bị h i nhằm khắc ph c hậu quả đã gây ra; phía bị h i đã nhận bồi thường và xin bãi n i cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm b điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình ph t mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
T i phiên tòa sau khi kết thúc việc xét hỏi Kiểm sát viên đã kết luận và thay đổi về tội danh truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng V {từ tội “Cướp tài sản” theo quy định t i Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) sang tội “Cướp giật tài sản” theo quy định t i Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017)}.
Xét việc Kiểm sát viên đ i diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận T Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố t i phiên tòa kết luận và thay đổi tội danh truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng V {từ tội “Cướp tài sản” theo quy định t i Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) sang tội danh nhẹ hơn là tội “Cướp giật tài sản” theo quy định t i Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017)} là cần thiết phù hợp với diễn biến của hành vi ph m tội mà bị cáo V đã thực hiện; việc kết luận và thay đổi về tội danh nhẹ hơn tội danh đã truy tố là có cơ s pháp luật, đúng người đúng tội; đồng thời mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất mức độ ph m tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i Khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t bổ sung một số tiền nhất định để tịch thu nộp ngân sách nhà nước nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó kh n và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo phần hình ph t bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đo n điều tra bị h i cũng như người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án không có yêu cầu bồi thường gì khác; t i phiên tòa vắng mặt. Xét đây là quyền tự định đo t quyết định của đương sự; nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng:
- Đối với tài sản bị chiếm đo t Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không thu hồi được; nên không có cơ s xem xét xử lý.
- Đối với 01 biển số xe gắn máy 67K8 – 5886 qua điều tra xác định là biển số giả cấm lưu hành; nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 cọc tiền âm phủ được quấn b ng keo màu vàng; 01 bịch nylon bên trong chứa một ít bột chiên tôm màu trắng đ c; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 áo khoác vải màu đen; 01 đôi dép kẹp màu đen; 01 quần tây màu xanh đen; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 gói nylon chứa bột chiên tôm màu trắng đ c; 02 cây búa; 01 con dao rọc giấy cán nhựa màu xanh; 01 bình xịt phòng hiệu Glade nắp nhựa màu hồng. Tất cả có liên quan đến v án và hiện không còn giá trị sử d ng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 USB (màu đỏ hiệu Kingston dung lượng 8GB) do bị h i Y giao nộp bà Y không có yêu cầu nhận l i và hiện không còn giá trị sử d ng; nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 hóa đơn bán vàng ngày 19/4/2018 của tiệm vàng Diễm Y (ghi 01 lắc vàng trọng lượng 9 81 chỉ, giá 23.940.000 đồng) được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đánh số bút l c 23; là tài liệu chứng cứ có liên quan đến v án nên cần tịch thu và lưu hồ sơ v án.
- Đối với chiếc xe gắn máy lo i Wave 110s màu đen mang biển số 67K8 – 5886 (biển số giả) mà bị cáo V sử d ng làm phương tiện di chuyển để ph m tội; qua điều tra xác định không có số khung và không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm đối với số máy: ZS150FMG-2-21002746; đây là phương tiện cấm lưu hành nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thảo Uyên Ph (là chủ tiệm vàng Hoàng Kim Lợi), khi mua chiếc lắc vàng do Lê Hoàng V bán thì không biết đây là tài sản do ph m tội mà có nên; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ vào Khoản 1 Điều 171; điểm b điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017);
Xử ph t: Bị cáo Lê Hoàng V 01 (Một) n m 09 (Chín) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 24/4/2018.
Về hình ph t bổ sung: Miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo Lê Hoàng V.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về vật chứng: C n cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự n m 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) biển số 67K8 – 5886; 01 (một) cọc tiền âm phủ được quấn b ng keo màu vàng; 01 (một) bịch nylon bên trong chứa bột chiên tôm màu trắng đ c; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 (một) áo khoác vải màu đen; 01 (một) đôi dép kẹp màu đen; 01 (một) quần tây màu xanh đen; 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh; 01 (một) gói nylon chứa bột chiên tôm màu trắng đ c; 02 (hai) cây búa; 01 (một) con dao rọc giấy cán nhựa màu xanh; 01 (một) bình xịt phòng hiệu Glade nắp nhựa màu hồng cùng 01 (một) USB màu đỏ hiệu Kingston dung lượng 8GB.
- Tịch thu và lưu hồ sơ v án 01 (một) hóa đơn bán vàng ngày 19/4/2018 của tiệm vàng Diễm Y (ghi 01 lắc vàng trọng lượng 9 81 chỉ giá 23.940.000 đồng) được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đánh số bút l c 23.
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe gắn máy lo i Wave 110s màu đen mang biển số 67K8 – 5886 (biển số giả) số khung: Không có số máy: ZS150FMG-2-21002746.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 164/PNK ngày 23/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T Thành phố Hồ Chí Minh).
Về án phí hình sự sơ thẩm: C n cứ vào Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự n m 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Hoàng V phải chịu số tiền là 200.000 (Hai tr m nghìn) đồng.
Thi hành t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười l m) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị h i vắng mặt t i phiên tòa; có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười l m) ngày kể từ ngày tống đ t hoặc niêm uyết bản án. Đối với người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa v của mình; trong thời h n 15 (mười l m) ngày kể từ ngày bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8; - Chi c c TH DS Q.8; - CQĐT C Q.8; - CQTHAHS Q.8; NTG CAQ.8; - Bị cáo; - Người tham gia tố t ng khác; - Lưu: VT hồ sơ v án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |