vanban.org

Bản án 223/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Nh và ông Đặng Duy H là vợ chồng.

Về con chung: Giao con là Đặng Uyển Nh sinh ngày 22/02/2001 cho bà Nguyễn Thị Nh tiếp tục nuôi, ông Đặng Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nh - Đặng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Nh và ông Đặng Duy H là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 223/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19-10-2018
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nhủ Khuyên

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Bà Lữ Phúc Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 19 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2018. Về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 312/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nh - Sinh năm 1971 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp Gi Ng, xã Đ H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Đặng Duy H - Sinh năm 1971 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp Gi Ng, xã Đ H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ông Đặng Duy H và bà Nguyễn Thị Nh trình bày:

- Về hôn nhân: Ông H và bà Nh kết hôn vào năm 1991 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng từ năm 2007 đến nay luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến không hòa thuận, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Bà Nh yêu cầu xin ly hôn với ông H. Ông H đồng ý ly hôn với bà Nh.

- Về con chung: Vợ chồng ông bà xác định có 03 người con chung tên là Đặng Diễm M sinh năm 1991, Đặng Trọng Tr sinh năm 1992 và Đặng Uyển Nh sinh ngày 22/02/2001. Hiện nay Đặng Trọng Tr và Đặng Uyển Nh đang sống chung với bà Nh. Riêng Đặng Diễm M đã sống riêng tự lập. Ông bà thống nhất Đặng Diễm M và Đặng Trong Tr hiện đã trưởng thành tự nuôi sống bản thân được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng Đặng Uyển Nh theo ai thì người đó nuôi, người không nuôi không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng ông bà, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Nh và ông Đặng Duy H là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Ông H có địa chỉ tại ấp Gi Ng, xã Đ H, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Bà Nh và ông H kết hôn vào năm 1991 nhưng không có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận. Mặc dù, bà Nh và ông H thống nhất thuận tình ly hôn nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Nh và ông H là vợ chồng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình thì bà Nh có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của bà Nh đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật Tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tại phiên hòa giải bà Nh và ông H đã thống nhất thuận tình ly hôn, thống nhất con theo ai thì người đó nuôi, người không nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con, thỏa thuận về tài sản và nợ chung. Tuy Nhên, ông bà kết hôn vào năm 1991 nhưng không có đăng ký kết hôn nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập ông H để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông H vắng mặt đến lần thứ hai. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với ông H.

Về con chung: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 02 con của ông bà là Đặng Diễm M và Đặng Trọng Tr đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân được, ông bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với Đặng Uyển Nh đã trên 07 tuổi nhưng dưới 18 tuổi, ông H và bà Nh thống nhất con theo ai thì người đó nuôi. Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/10/2018 đối với Đặng Uyển Nh của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thì cháu Nh có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Nguyễn Thị Nh. Xét thấy sự thỏa thuận của bà Nh và ông H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Nh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, ông bà không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng ông bà, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nh phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 9, 14, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Nh và ông Đặng Duy H là vợ chồng.

Về con chung: Giao con là Đặng Uyển Nh sinh ngày 22/02/2001 cho bà Nguyễn Thị Nh tiếp tục nuôi, ông Đặng Duy H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Sau khi đối trừ số tiền đã dự nộp, bà Nh đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0004604 ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm bà Nh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ