vanban.org

Bản án 222/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Trả lại cho ông Nguyễn Hồng P 01 xe mô tô biển số 67M6-9988 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M6-9988. Trả lại cho Nguyễn Ngọc E 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future Fi, màu trắng đỏ, biển số 65F1-693.68. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm Cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2024/HS-ST
Ngày 31 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Huỳnh Văn Nam và bà Nguyễn Thị Hân

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Trần Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 220/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Lâm Quốc Đ, sinh ngày 01/01/1998 tại thành phố LX, tỉnh AG; nơi đăng ký thường trú: số 2/10A, tổ 4, khóm Thạnh An, phường MT,thành phố LX, tỉnh AG; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Không rõ nhân thân, mẹ: bà Lâm Thị Ngọc H, sống chung như vợ chồng với Nguyễn Ngọc Lâm T và có 01 con.

Nhân thân: Ngày 29 tháng 11 năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “cướp giật tài sản” đến nay chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Long Xuyên (có mặt).

Nguyễn Ngọc Lâm T, sinh ngày 21/02/1997, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: số 408/12, khóm Tây Khánh 4, phường MH, thành phố LX, tỉnh AG; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Ngọc M, mẹ: bà Lương Thị Mộng T, sống chung như vợ chồng với Lâm Quốc Đ và có 01 con (có mặt).

Bị hại:

1. Ông Trần Quốc Thanh B, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số 179/2 Trần Nhật Duật, khóm 6, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

2. Ông Võ Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp Mỹ Long 1, xã MHH, thành phố LX, tỉnh AG. Nơi ở hiện nay: Ấp Bình Khánh, xã MK, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

3. Anh Trần Văn Ch, sinh năm 2004. Địa chỉ: Số 850 ấp Thạnh Hòa, xã BT, huyện CH, tỉnh AG (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Em Trần Quốc B, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số 179/2 Trần Nhật Duật, khóm 6, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

2. Em Võ Quốc P, sinh năm 2006. Địa chỉ: ấp Mỹ Long 1, xã MHH, thành phố LX, tỉnh AG. Nơi ở hiện nay: Ấp Bình Khánh, xã MK, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

3. Anh Trần Vạn P, sinh năm 2005. Địa chỉ: ấp Mỹ An 2, xã MHH, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

4. Anh Tô Phủ Đ, sinh năm 2004. Địa chỉ: Khu vực Phụng Thạnh 2, phường TK, quận TN, Thành phố CT(vắng mặt).

5. Ông Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu vực Phụng Thạnh 2, phường TK, quận TN, Thành phố CT (vắng mặt).

6. Anh Mai Lâm H, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số 4 khóm Bình Đức 5, phường BĐ, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

7. Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 279 Nguyễn Khắc Nhu, khóm Bình Khánh 3, phường BK, thành phố LX, tỉnh AG (có mặt).

8. Anh Dương Văn H, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số 635A/33 khóm Bình Khánh 2, phường BK, thành phố LX, tỉnh AG (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Quốc Đ rủ Nguyễn Ngọc Lâm T trộm xe mô tô tại thành phố LX, tỉnh AG, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024, Đ chở T đến công viên 8/3, phường MB, thành phố LX, tỉnh AG. T cảnh giới cho Đ dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe mô tô Honda Wave Alpha biển số 67C1-247.53 của anh Trần Quốc B. T chạy xe mô tô về nhà trọ Lâm Mai H tại phường BĐ thành phố LX, tỉnh AG. Đ điều khiển xe 67C1-247.53 đến cầu Nguyễn Trung Trực thuộc phường BK, thành phố LX, tỉnh AG điện thoại cho Đoàn Quốc Trường T để bán xe mô tô. T đi cùng người thanh niên (chưa rõ họ tên) mua với giá 2.500.000 đồng, T không thừa nhận về hành vi mua bán với Đ.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8 năm 2024, Đ chở T đến công viên 8/3, phường Mỹ Bình, với phương thức và thủ đoạn như trên, Đ lấy trộm xe mô tô Honda Wave Alpha, biển số 67B1-815.14 của anh Võ Quốc P và điều khiển về nhà trọ Lâm Mai H. Đ gặp bà Lâm Thị Ngọc H (mẹ ruột của Đ) nói xe không giấy tờ của người bạn nhờ bán dùm. H đồng ý và liên hệ cho ông S(không rõ nhân thân) đến chợ Nhà Bàng, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang để bán xe thì có 01 người nam, 01 người nữ không rõ nhân thân đến xem và mua xe với giá 2.500.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 20 giờ ngày 17 tháng 8 năm 2024, Đ điều khiển xe mô tô biển số 65F1-693.68 mượn của anh Tô Phủ Đ chở T đến công viên 8/3, cũng với phương thức, thủ đoạn như các lần trước, Đ lấy trộm xe Yamaha Exciter, màu đen, biển số 67C1-539.67 của anh Trần Vạn P. Khi Đ đã lấy trộm, T điều khiển xe 65F1-693.68 bỏ đi, còn Đ điều khiển xe về phòng 109, nhà trọ Lâm Mai H cất giấu. Tại đây, Đ dùng sơn màu đen sửa biển số từ số 67C1-539.67 thành 67C1-689.07.

Đến ngày 18 tháng 8 năm 2024, Công an thành phố Long Xuyên kiểm tra hành chính nhà trọ Lâm Mai H thu giữ xe mô tô biển số 67C1-539.67 và mời Đ và Tvề trụ sở Công an phường Mỹ Bình làm việc. Tại Công an phường, Đ, T khai nhận lấy trộm xe mô tô biển số 67C1-539.67 nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển số 67C1-539.67, số khung: RLCUG0610JY693123, số máy: G3D4E721261;

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future Fi, màu trắng đỏ, biển số 65F1-693.68, số khung RLHJC765XMY056560, số máy JC90E - 0172446 thu tại nhà trọ Lâm Mai H;

- 01 xe mô tô, loại Wave màu xanh, biển số 67M6-9988, số khung RRKWCHSUM7X 012482, số máy VTTJL 1P52FMH7 - 012482 thu tại nhà trọ Lâm Mai H;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M6-9988 mang tên Nguyễn Ngọc T, thu tại nhà trọ Lâm Mai H;

- 01 bộ đồ bộ bằng vải màu kem có hình chuột Mickey, đã qua sử dụng thu tại nhà trọ Lâm Mai H, thu của Lâm Quốc Đ.

- 01 mủ bảo hiểm màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 bộ tóc giả màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 1482/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, loại xe tay côn, màu đen, biển số 67C1-539.67, số khung RLCUG0610JY693123, số máy: G3D4E721261, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 50% trị giá: 22.745.000 đồng

Kết luận định giá tài sản 1484/KL-HDDGTS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha Việt Nam, loại xe số, màu sơn trắng đen, biển số 67C1 - 247.53, số khung C12E-5422659, số máy 1215DY422455, giá trị còn lại 50% trị giá 9.387.500 đồng

Kết luận định giá tài sản 1812/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong Tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Long Xuyên: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng bạc đen, biển số 67B1-815.14, số khung RLHHC1258FY179455, số máy HC12E7179483, trị giá 9.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 1402/KL-KTHS ngày 06 tháng 10 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang: Xe mô tô biển số 67M6-9988, số khung RRKWCHSUM7X 012482, số máy VTTJL 1P52FMH7 - 012482 và xe mô tô biển số 65F1 – 693.68 số khung RLHJC765XMY056560, số máy JC90E - 0172446 gửi giám định có số khung, số máy không bị: đục, sửa, cắt, hàn, tẩy xóa, hoen gỉ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quốc Thanh B yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng. Anh Võ Văn Tây yêu cầu bồi thường 9.000.000 đồng. Anh Trần Văn C đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKSLX ngày 12 tháng 12 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Quốc Đ và Nguyễn Ngọc Lâm T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Anh Trần Quốc Thanh B và anh Võ Văn T yêu cầu bồi thường, anh Nguyễn Hồng P yêu cầu nhận lại xe; riêng anh Trần Văn C đã nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lâm Quốc Đạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Lâm Tuyền từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đối với, T, H chưa đủ căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự và những người mua xe của Đ và T chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tô Phủ Đ cho Đ mượn xe mô tô sử dụng nhưng không biết Đ dùng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ.

Về vật chứng: Trả lại cho ông Nguyễn Hồng P: 01 xe mô tô biển số 67M6-9988 , 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M6-9988 và trả lại cho Nguyễn Ngọc E: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future Fi, màu trắng đỏ, biển số 65F1-693.68 do không liên quan đến việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ đồ bộ bằng vải màu kem có hình chuột Mickey; 01 mủ bảo hiểm màu trắng; 01 bộ tóc giả màu đen là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo liên đới trả 5.000.000đ cho ông B và 9.000.000đ cho anh T.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

- Tại phiên tòa các bị hại gồm: B, T, C; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: B, P, P, Đ, E, H vắng mặt; P, Dcó mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024, Đ điều khiển xe mô tô Future chở T đến công viên 8/3, phường MB, thành phố LX, tỉnh AG. T cảnh giới cho Đ lén lút dùng đoản bẻ khóa lấy trộm xe Honda Wave Alpha, biển số 67C1-247.53 của anh Trần Quốc B. T điều khiển xe Future về nhà trọ Lâm Mai H, phường BĐ, thành phố LX, tỉnh AG. Đ điều khiển xe 67C1-247.53 đến khu vực Nhà máy đông lạnh, phường Bình Đức bán xe cho T với giá 2.500.000 đồng nhưng T không thừa nhận.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10 tháng 8 năm 2024, Đ điều khiển xe mô tô Wave chở T đến công viên 8/3, phường MB, thành phố LX, tỉnh AG, với phương thức, thủ đoạn như trên, Đ lấy trộm xe mô tô Honda Wave Alpha, biển số 67B1-815.14 của anh Võ Quốc P. Đ điều khiển xe về nhà trọ Lâm Mai H. Tại nhà trọ Đ gặp Lâm Thị Ngọc H (mẹ ruột của Đ) nói xe không giấy tờ của người bạn nhờ bán dùm. H đồng ý và điện thoại cho ông S (không rõ nhân thân), hẹn lên chợ Nhà Bàng, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang để xem xe. Tại Tịnh Biên có 01 người nam, 01 người nữ (không rõ nhân thân) đến xem và mua xe mô tô 67B1-815.14 với giá 2.500.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 20 giờ ngày 17 tháng 8 năm 2024, Đ mượn xe biển số 65F1-693.68 của anh Đ chở T đến công viên 8/3, phường MB, thành phố LX, tỉnh AG. Cũng với phương thức, thủ đoạn như các lần trước, Đ trộm xe Yamaha Exciter, biển số 67C1-539.67 của anh Trần Vạn P. T điều khiển xe bỏ đi, Đ điều khiển xe trộm được về nhà trọ cất giấu. Tại đây, Đ sửa biển số từ số 67C1-539.67 thành 67C1-689.07. Đến ngày 18 tháng 8 năm 2024, Công an thành phố Long Xuyên kiểm tra hành chính nhà trọ Lâm Mai H thu giữ xe mô tô biển số 67C1-539.67 và mời Đ và T về trụ sở Công an phường Mỹ Bình làm việc. Đ, T khai nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô biển số 67C1-539.67.

Hành vi của bị cáo Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ, T có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét, đây là vụ án đồng phạm do các bị cáo cùng nhau rủ rê và thực hiện hành vi phạm tội, nhưng tính chất giản đơn nhưng các bị cáo tìm kiếm tài sản chiếm đoạt, cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Vị trí vai trò của bị cáo Đ là người rủ rê, cùng bị cáo T chiếm đoạt tổng giá trị tài sản là 41.132.500 đồng. Bị cáo Đ có vai trò cao nhất trong vụ án, có nhân thân xấu, 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ, nên bị cáo Đạt phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo T. Đối với bị cáo T có 01 tình tiết giảm nhẹ, có 01 tình tiết tăng nặng, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo thấp hơn bị cáo Đ.

Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với T, H chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự và những người mua xe của Đ, T chưa rõ nhân thân nên tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tô Phủ Đ cho Đ mượn xe nhưng không biết dùng làm phương tiện phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trả lại xe mô tô biển số 67M6-9988 và một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M6-9988 cho ông Nguyễn Hồng P và trả lại cho Nguyễn Ngọc E xe mô tô biển số 65F1-693.68 do không liên quan. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ đồ bộ bằng vải, 01 mủ bảo hiểm, 01 bộ tóc giả là công cụ phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đồng ý bồi thường, bị cáo Đ xin giảm nhẹ mức bồi thường, chỉ đồng ý bồi thường 11.000.000đ. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Đ và T liên đới trách nhiệm bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho anh Trần Quốc Thanh B và số tiền 9.000.000 đồng cho anh Võ Văn T. Riêng anh Trần Văn C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét đến.

Về các vấn đề khác: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu trách nhiệm nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lâm Quốc Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 18 tháng 08 năm 2024.

-Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Lâm T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày bắt giữ.

-Căn cứ vào Điều 46; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Trả lại cho ông Nguyễn Hồng P 01 xe mô tô biển số 67M6-9988 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M6-9988.

Trả lại cho Nguyễn Ngọc E 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Future Fi, màu trắng đỏ, biển số 65F1-693.68.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ đồ, 01 mủ bảo hiểm, 01 bộ tóc giả là công cụ sử dụng vào việc phạm tội (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2024).

-Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lâm Quốc Đ và Nguyễn Ngọc Lâm T liên đới trách nhiệm bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho anh Trần Quốc Thanh B ; 9.000.000 đồng cho anh Võ Văn T. Anh Trần Văn C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét đến.

-Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lâm Quốc Đ, Nguyễn Ngọc Lâm T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu trách nhiệm nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng).

-Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ