vanban.org

Bản án 222/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.

Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải trả cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T giá trị xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 với số tiền 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng) và số tiền chi phí định giá tài sản là 10.450.000 đồng (Mười triệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng thuê tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 222/2023/DS-ST.
Ngày 15-6-2023
V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài
sản.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Thải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Khiết.

2. Bà Lƣơng Thị Kim Nghĩa.

Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2021/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2021, về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2023/QĐST-DS ngày 25/5/2023, giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1988,

Địa chỉ: Số 41/5 huyện M, Thành phố H. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Công ty TNHH Thƣơng mại Dịch vụ Tƣ vấn Đầu tƣ HK,

Địa chỉ: Số 237 Phường M, quận B, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Có ông Lê Thành Kg – Giám đốc, đại diện theo pháp luật. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty TNHH Thƣơng mại Dịch vụ Tƣ vấn Đầu tƣ HK – Chi nhánh B;

Địa chỉ: Số 66 phường B, quận T, Thành phố H. (Vắng mặt).

2/ Ngân hàng S.

Địa chỉ: Số 720A Phường HH, quận B, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Quang D, sinh năm 1978, địa chỉ Số 720 A, Phường HH, quận B, Thành phố H là đại diện ủy quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 02 năm 2022). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989,

Địa chỉ: Số 41/5 Đặng Thúc Vịnh, Ấp Tam Đông 3, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, ông Trần Văn T, trình bày: Ngày 09/5/2020, ông với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK - Chi nhánh B (gọi tắt là công ty HK - Bình Tân) có ký hợp đồng thuê xe số 566/2020/HĐTX-Partner, ông cho công ty HK - Bình Tân thuê xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 với thời hạn là 12 tháng, từ ngày 09/5/2020 đến ngày 09/5/2021. Tuy nhiên, sau khi hết thời hạn hợp đồng, ông đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu trả xe nhưng công ty HK - Bình Tân không thực hiện và cho rằng xe đã mất. Xe ô tô mà ông cho công ty HK - Bình Tân thuê hiện nay đang được thế chấp cho Ngân hàng S.

Xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033, bị mất đã được định giá, theo Chứng thư thẩm định giá số: 02TA-QBT/05/22/CTM ngày 13/5/2022 của Công ty TNHH Thẩm định giá và giám định C thì giá trị là 390.600.000 đồng. Do đó, ông yêu cầu Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải trả lại giá trị xe với số tiền 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng).

Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK - Chi nhánh B, đã được tống đạt hợp lệ, yêu cầu có mặt để giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản với ôngT nhưng vắng mặt không có lý do.

Ngân hàng S (gọi tắt là Ngân hàng), có ông Phạm Quang D đại diện ủy quyền, đã có bản tự khai trình bày: Ông T là khách hàng vay theo Hợp đồng tín dụng số /No.: SHBVN/CP/HĐTD/TVT-NTT/201809 ngày 10/9/2018 và có tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 theo Hợp đồng thế chấp số /No.: SHBVN/CP/HĐTC/TVT-NTT/201809 ngày 10/9/2018. Do đó, Ngân hàng S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ tranh chấp hợp đồng thuê tài sản giữa ông T và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK (gọi tắt là công ty HK ). Tuy nhiên hiện nay, ông T vẫn thực hiện việc trả nợ đầy đủ theo hợp đồng vay nên Ngân hàng không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án tranh chấp hợp đồng thuê tài sản nói trên và có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Bà Nguyễn Thị T đã có bản tự, trình bày: Yêu cầu, công ty HK phải trả lại cho vợ chồng bà, giá trị xe bị mất là 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng). Bà Thao đã có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà hôm nay:

* Ông Trần Văn T vẫn giữ yêu cầu buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải trả lại giá trị xe với số tiền 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng) và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

* Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK - Chi nhánh B, đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt để Tòa án tiến hành xét xử giải quyết việc tranh chấp hợp đồng thuê tài sản với ông T nhưng vắng mặt không có lý do.

* Ngân hàng S, có ông Phạm Quang D đại diện ủy quyền, đã có bản tự khai trình bày: Ngân hàng S không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án tranh chấp hợp đồng thuê tài sản giữa ôngT với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK và có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Bà Nguyễn Thị T có yêu cầu Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải trả lại cho vợ chồng bà, giá trị xe bị mất là 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng) và có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định, tuy nhiên về thời hạn xét xử có chậm hơn so với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.

Về nội dung: Ông Trần Văn T có cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK - Chi nhánh B (gọi tắt là công ty HK - B) thuê xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 với thời hạn là 12 tháng, từ ngày 09/5/2020 đến ngày 09/5/2021 theo hợp đồng 566/2020/HĐTX-Partner ngày 09/5/2020. Tuy nhiên, đến nay công ty HK - B (công ty HK - B là chi nhánh của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK) cho rằng xe đã bị mất và không trả lại xe cho ông T. Theo Chứng thư thẩm định giá số: 02TA-QBT/05/22/CTM ngày 13/5/2022 của Công ty TNHH Thẩm định giá và giám định C thì xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 có giá trị là 390.600.000 đồng. Xe ô tô mà ôngT cho công ty HK - B là tài sản chung của vợ chồng ông T, bà T. Do đó, ông T có yêu cầu và bà T có ý kiến buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải trả lại giá trị xe bị mất với số tiền 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng) là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T và ý kiến của bà T.

Đối với Hợp tín dụng và thế chấp tài sản giữa ông T với Ngân hàng S, do các đương sự không có yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Dành quyền khởi kiện cho Ngân hàng S trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê tài sản, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK có chi nhánh là Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK - Chi nhánh B, địa chỉ tại 66 phường B, quận T đã thực hiện ký hợp đồng thuê tài sản, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về nội dung: Giữa ông Trần Văn T với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK - Chi nhánh B (gọi tắt là công ty HK - B) có ký hợp đồng thuê xe số 566/2020/HĐTX-Partner ngày 09/5/2020, theo đó ông T đã cho thuê xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 với thời hạn là 12 tháng, từ ngày 09/5/2020 đến ngày 09/5/2021. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê xe, giữa đôi bên có tranh chấp nên ông T có đơn khởi kiện Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK (gọi tắt là là công ty HK ) tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân.

Qua yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T buộc công ty HK phải trả giá trị xe là 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng), Hội đồng xét xử, xét thấy:

. Theo hợp đồng thuê xe số 566/2020/HĐTX-Partner ngày 09/5/2020, đôi bên thỏa thuận ôngT cho công ty HK - B thuê xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033, với thời hạn là 12 tháng, từ ngày 09/5/2020 đến ngày 09/5/2021, với giá thuê là 6.800.000đồng/tháng.

Theo Điều 472 của Bộ luật Dân sự, quy định: “Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê...”. Theo quy định trên, thì hợp đồng giữa đôi bên là hợp đồng thuê tài sản, có thỏa thuận về thời hạn thuê và giá thuê. Tuy nhiên, đã hết thời hạn thuê nhưng phía thuê tài sản vẫn không trả lại tài sản thuê, theo ông T thì phía thuê tài sản cho rằng xe ô tô thuê đã bị mất nên không thể trả lại cho ông được.

. Xét thấy, hợp đồng thuê xe số 566/2020/HĐTX-Partner ngày 09/5/2020, tại khoản 8 Điều 5 của hợp đồng, quy định: “Đối với rủi ro vận hành xảy ra do tài xế của bên thuê cầm cố xe.... dẫn đến xe không có khả năng lưu thông, trong cácT hợp trên bên cho thuê hỗ trợ bên thuê bằng cách không tính tiền thuê xe trong thời gian xe không lưu thông; Bên thuê có trách nhiệm chịu 100% chi phí chuộc xe, sửa chữa xe và bồi thường nếu không tìm được xe”. Theo thỏa thuận trên, nếu bên thuê tài sản để mất tài sản thì phải bồi thường cho bên cho thuê tài sản.

Theo khoản 1 Điều 479 của Bộ luật Dân sự, quy định: “Bên thuê phải bảo quản tài sản thuê, phải bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ; nếu làm mất, hư hỏng thì phải bồi thường...”. và theo khoản 6 Điều 84 của Bộ luật Dân sự, quy định: “Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện”. Từ những quy định trên, thì công ty HK phải có nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do công ty HK – Bình Tân xác lập, thực hiện. Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số: 02TA-QBT/05/22/CTM ngày 13/5/2022 của Công ty TNHH Thẩm định giá và giám định C, giá trị xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 mà phía công ty HK - B đã thuê của ông T có giá trị là 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng).

Từ những nhận định nói trên, đối với yêu của ông T buộc công ty HK phải trả lại giá trị xe tương đương 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Bà Nguyễn Thị T có ý kiến buộc công ty HK phải trả lại cho vợ chồng bà, giá trị xe bị mất là 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng), xét yêu cầu của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật như những nhận định nói trên, nên ghi nhận.

. Ngân hàng S, có ông Phạm Quang D đại diện ủy quyền, trình bày: Ông T là khách hàng vay theo Hợp đồng tín dụng số /No.: SHBVN/CP/HĐTD/TVT-NTT/201809 ngày 10/9/2018 và có tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 theo Hợp đồng thế chấp số /No.: SHBVN/CP/HĐTC/TVT-NTT/201809 ngày 10/9/2018. Hiện nay, ông T vẫn thực hiện việc trả nợ đầy đủ theo hợp đồng vay nên Ngân hàng S không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án tranh chấp hợp đồng thuê tài sản giữa ông T với công ty HK . Do các bên đương sự không có yêu cầu nên Tòa không xét. Dành quyền khởi Ngân hàng S trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

. Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp chấp nhận yêu cầu của ông T và ý kiến của bà T, buộc công ty HK phải trả giá trị xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 với số tiền 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng). Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

. Về chi phí định giá: Do phải chịu trách nhiệm phải trả giá trị xe ô tô nên công ty HK phải chịu chi phí định giá tài sản là 10.450.000 đồng (Mười triệu bốn trăm năm năm mươi ngàn đồng). Số tiền này, ông T đã tạm ứng trước theo biên lai thu ngày 06/06/2022 của Công ty TNHH Thẩm định giá và giám định C. Do đó, cần buộc công ty HK có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí định giá tài sản nói trên cho ông T theo quy định.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 144 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì: Công ty HK chịu trách nhiệm phải trả giá trị xe ô tô là 390.600.000 đồng nên phải chịu án phí là 19.530.000 đồng. Ông Trần Văn T không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho ông T số tiền tạm ứng án phí là 10.000.000 đồng theo biên lai thu số 0032972 ngày 02/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; Điều 146; Điều 147; Điều 164; Điều 165; Điều 166; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 6 Điều 84; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 472 và khoản 1 Điều 479 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.

Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải trả cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T giá trị xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển số 49A-22033 với số tiền 390.600.000 đồng (Ba trăm chín mươi triệu sáu trăm ngàn đồng) và số tiền chi phí định giá tài sản là 10.450.000 đồng (Mười triệu bốn trăm năm năm mươi ngàn đồng).

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ khi ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T có yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Án phí DSST: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tư vấn Đầu tư HK phải chịu số tiền án phí là 19.530.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng).

Ông Trần Văn T không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho ông Trần Văn T số tiền tạm ứng án phí là 10.000.000 đồng theo biên lai thu số 0032972 ngày 02/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương theo quy định của pháp luật.

4.T hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự).

Cỡ chữ