vanban.org

Bản án 222/2023/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ý N. Buộc ông Vũ Thanh B có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Ý N số tiền 5.

Kể từ ngày bà Lê Ý N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Vũ Thanh B không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành. Về án phí:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Đòi bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ý N. Buộc ông Vũ Thanh B có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Ý N số tiền 5.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 584 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2023/DS-ST
Ngày: 13-7-2023
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng do sức khoẻ bị xâm
phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Duyên Văn Hiền

Ông Nguyễn Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khoẻ bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Ý N. Sinh năm: 1988. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

Bị đơn: Ông Vũ Thanh B, sinh năm 2003. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 3 năm 2023 cũng như lời trình bày của nguyên đơn thể hiện:

Vào ngày 10/12/2022, bà N điều khiển xe moto đi từ hướng cầu R thuộc ấp R, xã L, huyện T về hướng cầu “Dân Sinh”, ông Vũ Thanh B điều khiển xe moto theo hướng ngược lại va chạm vào xe bà N. Do va chạm, bà N bị vỡ xương má và xương hàm, xương mũi. Sau khi sự việc xảy ra, tại cơ quan Công an huyện Trần Văn T, thoả thuận phía ông B có trách nhiệm bồi thường cho bà N số tiền 8.000.000 đồng, trong đó 3.000.000 đồng là chi phí sửa chữa xe ông B đã bồi thường xong, còn lại 5.000.000 đồng là hỗ trợ, bồi thường tiền thang thuốc nhưng đến nay ông B không thực hiện. Do vậy, bà khởi kiện ông B có trách nhiệm bồi thường cho bà N số tiền 5.000.000 đồng.

Đối với ông Vũ Thanh B, Toà án đã tống đạt thông báo, triệu tập tham gia giải quyết vụ án theo quy định nhưng đều vắng mặt, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Lê Ý N và ông Vũ Thanh B là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khoẻ bị xâm phạm. Nơi xảy ra sự việc dẫn đến thiệt hại và cư trú của bị đơn đều tại huyện T, nên bà Lê Ý N khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 6 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn cho rằng, vào ngày 10/12/2022, giữa bà và ông B có va chạm xe moto, bà N bị vỡ xương má và xương hàm, xương mũi. Sau khi sự việc xãy ra, tại Cơ quan Công an huyện Trần Văn T, thoả thuận phía ông B có trách nhiệm bồi thường cho bà N số tiền 8.000.000 đồng, nhưng đến nay ông B chỉ bồi thường cho bà 3.000.000 đồng. Do vậy, bà khởi kiện ông B có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bà N số tiền 5.000.000 đồng.

Xét thấy, tại biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông ngày 04/01/2023 ông B và bà N thống nhất ông B hỗ trợ cho bên bà N số tiền 8.000.000 đồng, cả hai không yêu cầu gì thêm về trách nhiện dân sự, hình sự liên quan đến vụ tai nạn. Tại giấy xác nhận ngày 12/12/2022 của Bệnh viện Đ và bảng kê chi phí điều trị cho thấy bà N có bị thương và điều trị sau va chạm. Như vậy, sự việc va chạm xe là có diễn ra trong thực tế, thiệt hại về sức khoẻ của bà N là có thực, tại biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông ngày 04/01/2023 ông B cũng có ý thức bồi thường, hỗ trợ cho bà N. Do vậy, yêu cầu của bà N đặt ra là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Ông Vũ Thanh B có nghĩa vụ thực hiện bồi thường cho bà Lê Ý N nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ý N. Buộc ông Vũ Thanh B có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Ý N số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Kể từ ngày bà Lê Ý N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Vũ Thanh B không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí: Bà Lê Ý N được miễn nộp tạm ứng án phí và không phải chịu án phí. Ông Vũ Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, nguyên đơn tính từ ngày tuyên án, bị đơn tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ