vanban.org

Bản án 222/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 02/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 01/12/2022. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh Thúy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2022/HS-ST
Ngày 02-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông; Ông Nguyễn Tấn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 232/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2022/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh T, tên gọi khác: không; Giới tính: nữ; Sinh ngày 08/7/2001 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn Định Trung 1, xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; Hiện nay tạm trú: 67 Nguyễn Lữ, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Thanh Phương, sinh năm 1976; Mẹ: Trần Thị Tri, sinh năm 1981; Chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú(có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

- Chị Lý Thị Hồng H, sinh năm 2001(có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Phòng 314, ký túc xá C4, Trường đại học Quy Nhơn, P. Nguyễn Văn Cừ, TP. Quy Nhơn, T. Bình Định.

- Chị Nông Thị Hồng Hạ, sinh năm 2001(có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Phòng 314, ký túc xá C4, Trường đại học Quy Nhơn, P. Nguyễn Văn Cừ, TP. Quy Nhơn, T. Bình Định.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Huỳnh Nh, sinh năm 2001(vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Phòng 211, ký túc xá C3, Trường đại học Quy Nhơn, P. Nguyễn Văn Cừ, TP. Quy Nhơn, T. Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thanh T là sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn thuộc phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn, T đăng ký ở Phòng 314, ký túc xá C4 của Trường Đại học Quy Nhơn, ở cùng với Lý Thị Hồng H, Nông Thị Hồng Hạ và một số bạn khác. Khoảng 09 giờ ngày 17/6/2022, Thúy đi từ nhà ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên về lại Phòng 314 ký túc xá C4. Lúc này, phòng ký túc xá của T không có ai, T dọn dẹp phòng nhìn thấy máy tính xách tay hiệu ASUS của H và máy tính xách tay hiệu MSI của Hạ để trên giường nên lấy 02 máy tính xách tay này đem qua phòng của Nguyễn Huỳnh Nh ở Phòng 211, ký túc xá C3, Trường Đại học Quy Nhơn để sử dụng vì máy tính của T bị hư. Sau khi dùng xong, T nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 máy tính xách tay trên nên không đem máy tính về phòng để trả cho Hạ và H. H nói với Nh là nhờ gửi 02 máy tính xách tay ở đây và dùng mền che 02 máy tính lại rồi về phòng của mình. Đến 22 giờ cùng ngày, Hạ và H phát hiện máy tính của mình bị mất nên nói với mọi người trong phòng, T nghe vậy nhưng không nói gì. Sáng ngày 18/6/2022 Hạ và H báo với công an về sự việc bị mất máy tính xách tay. Ngày 19/6/2022, T lo sợ nên nhắn tin cho Hạ và H thừa nhận đã lấy trộm 02 máy tính trên rồi đem 02 máy tính xách tay đến Công an phường Nguyễn Văn Cừ đầu thú, giao nộp và khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 18/7/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, core i3-1005G1, màu bạc, đã qua sử dụng, trị giá: 7.200.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu MSI, core i3-115G4, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá: 8.100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 15.300.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn tạm giữ và đã trả lại máy tính xách tay hiệu hiệu ASUS cho Lý Thị Hồng H, máy tính xách tay hiệu MSI cho Nông Thị Hồng Hạ.

Về dân sự: Lý Thị Hồng H, Nông Thị Hồng Hạ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 157/CT-VKSQN ngày 03/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã nêu và các chứng cứ mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập. Bị cáo xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 6 đến 9 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T xin Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã khai nhận toàn hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng như của Viện kiếm sát truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Tòa khẳng định: Vào ngày 17/6/2022, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay hiệu ASUS trị giá 7.200.000 đồng của Lý Thị Hồng H và 01 máy tính xách tay hiệu MSI trị giá 8.100.000 đồng của Nông Thị Hồng Hạ, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tự đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng (theo giấy xác nhận thông tin về nơi cư trú ngày 2.12.2022 của UBND phường Ngô Mây, thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định), hơn nữa hiện nay bị cáo hiện là sinh viên trường Đại Học Qui Nhơn, nên khi xử phạt không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo học tập trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với Nguyễn Huỳnh Nh có hành vi cất giữ giúp Nguyễn Thị Thanh T 02 máy tính xách tay nhưng Nh không biết tài sản này do phạm tội mà có nên không phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là sinh viên không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại là chị Lý Thị Hồng H và chị Nông Thị Hồng Hạ. Chị H, chị Hạ không có yêu cầu bồi thường nên Tòa không xét.

Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn tạm giữ và đã trả lại máy tính xách tay hiệu hiệu ASUS cho Lý Thị Hồng H và máy tính xách tay hiệu MSI cho Nông Thị Hồng Hạ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 01/12/2022.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã An Định, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

4. Về quyền kháng cáo: p dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ