- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Văn N; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 222/2022/HS-PT Ngày 10 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn;
Các Thẩm phán: 1. Ông Mai Văn Hùng Cường;
2. Ông Võ Ngọc Hải;
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hồng Chi – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 173/2022/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Trương Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2022/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thị xã L, tỉnh Tiền Giang.
* Bị cáo có kháng cáo:
Trương Văn N, sinh năm 1983 tại tỉnh Tiền Giang.
- Nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
- Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
- Con ông Trương Văn C (đã chết) và bà Trần Thị Đ (đã chết); Vợ: Lê Thị Anh T (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2011.
- Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2021 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Ngoài ra, bản án còn có bị hại Nguyễn Minh T1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Nguyễn Hoàng T2 nhưng không có kháng cáo. Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 08/01/2021, anh Nguyễn Minh T1 cùng anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977, cư trú ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đến quán A tại ấp P, xã P, thị xã C uống bia. Tại đây, anh T1 gặp anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1982, cư trú ấp Q, xã N, thị xã C và bị cáo Trương Văn N cùng một số người khác cũng đang tổ chức uống bia nên anh T1 và anh T3 vào ngồi cùng bàn. Khoảng 15 giờ cùng ngày, trong lúc đi vệ sinh thì giữa anh T1 với anh T2 xảy ra mâu thuẫn cự cãi dẫn đến đánh nhau qua lại bằng tay và được mọi người trong quán can ngăn. Thấy anh T1 đánh anh rể của mình là T2 nên bị cáo N cầm chai bia Tiger bạc bằng thủy tinh, chưa bật nắp, từ phía sau đánh vào đầu anh T1 làm chai bia bị vỡ gây thương tích cho anh T1. Ngày 09/01/2021 anh T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trương Văn N.
Vật chứng thu giữ gồm: Một số mảnh vỡ từ chai thủy tinh hiệu Tiger, có hình dạng và kích thước khác nhau.
Giấy chứng nhận thương tích số 000013/CN-BV ngày 09/01/2021 của Bệnh viện Đ1 ghi nhận thương tích của anh T1 như sau: Hai vết thương xay xát nhẹ đỉnh đầu trái khô; một vết thương xay xát da đỉnh đầu phải khô.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 67/2021/TgT ngày 12/01/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Minh T1 là 03%.
Trong quá trình điều tra bị cáo N khai có khám bệnh ngoại trú tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Tiền Giang nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bị cáo N.
Kết luận giám định pháp y tâm thần số 519/KL – VPYTW ngày 08/9/2021 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa đối với Trương Văn N như sau:
- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự không có bệnh tâm thần.
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2022/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thị xã L, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, bị cáo Trương Văn N kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trương Văn N khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo Trương Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 15 giờ ngày 08/01/2021, tại quán A thuộc ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo N đã sử dụng chai bia Tiger bằng thủy tính đánh vào đầu anh Nguyễn Minh T1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương sức khỏe 03%. Xét chai bia thủy tinh mà bị cáo sử dụng đánh anh T1 được xem là “hung khí nguy hiểm” và sau khi bị đánh anh T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Trương Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Trương Văn N nhận thấy: Về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng, mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ; hành vi trái pháp luật gây tổn hại đến sức khỏe của người khác sẽ bị lý nghiêm khắc. Nhận thức được điều đó thì lẽ ra khi thấy anh T1 với anh T2 xảy ra cự cãi, ẩu đả lẫn nhau thì bị cáo phải tìm cách can ngăn, hòa giải. Ngược lại, chỉ vì muốn bênh vực cho anh T2 mà bị cáo đã sử dụng chai bia đánh vào đầu anh T1 gây thương tích. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp gây thiệt hại đến sức khỏe của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, xử phạt hình phạt nghiêm khắc là cần thiết, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 tháng tù là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo nhưng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Văn N; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 68/2022/HS-ST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Tiền Giang.
2. Tuyên bố bị cáo Trương Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn N 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang; - Phòng KTNV và THA (TAT); - TAND TX L; - VKSND TX L; - Công an TX L; - THADS TX L; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Tuấn |