vanban.org

Bản án 222/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Đăng Linh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------------
Bản án số: 222/2021/HS-ST
Ngày 26 tháng 10 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Thu Hƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phƣơng Mai và bà Ông Đặng Thế Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Phƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 232/2021/TLST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đăng L- Sinh năm 1988; Đăng ký hộ khẩu thường trú: số 8 Kiệt 245, phường T, thành phố H, tỉnh T; Chỗ ở: Số 39 ngõ 383 P, phường P, quận H, Thành phố H; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng L, sinh năm 1962; Con bà Đỗ Thị L; vợ là: Lê Thị H, sinh năm: 1989; Có 01 con sinh năm 2013; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ: 20/5/2021; Tạm giam: 29/5/2021; Số giam: 2947A2/19; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an TP. Hà Nội. Có mặt

*Bị hại:

Chị Hoàng Thị Q, sinh năm 1984; Nơi cư trú: số 39 ngõ 383 P, quận H,

thành phố H.

Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 19/5/2021, Chị Hoàng Thị Q (sinh năm: 1984, trú tại: số 39/383 P, phường P, quận H, H) đến Công an phường Phúc Tân trình báo việc: khoảng cuối tháng 3/2021, chị Q là chủ xưởng sản xuất của công ty TNHH vàng bạc Tú Bình trong quá trình chốt sổ giao nhận nguyên liệu, thành phẩm vàng chế tác với nhân viên của công ty là Nguyễn Đăng Lthì phát hiện bị mất trộm khoảng 130 chỉ vàng loại 10k .

Tạm giữ của Chị Hoàng Thị Q: 01 đoạn dây bằng vàng có hàm lượng vàng là 42,19%, khối lượng 3,40 gam và 01 mẩu vàng có hàm lượng vàng là 41,62%, khối lượng 3,64 gam; 01 phiếu nhập hàng gồm 03 tờ thống kê từng ngày; 07 tờ thống kê từng sản phẩm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 175/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận Hoàn Kiếm kết luận: trị giá của 01 đoạn dây bằng vàng có hàm lượng vàng là 42,19%, khối lượng 3,40 gam là 1.997.700 đồng; trị giá của 01 mẫu vàng có hàm lượng vàng là 41,62%, khối lượng 3,64 gam có trị giá 2.109.700 đồng.

Ngày 20/5/2021, Nguyễn Đăng Llên Công an phường Phúc Tân đầu thú giao nộp 03 tờ giấy có ghi chép số vàng đã giao và nhận trong dây chuyền sản xuất từ ngày 02/3/2021 đến ngày 26/3/2021 và khai nhận: Vào khoảng năm 2018, Linh được Chị Hoàng Thị Q – là chủ xưởng sản xuất của công ty TNHH vàng bạc Tú Bình thuê làm thợ chế tác, gia công các sản phẩm từ vàng loại 10k, ăn ở, làm việc tại xưởng sản xuất vàng địa chỉ số 39 ngõ 383 Phúc Tân, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Quy trình làm việc hàng ngày là chị Q giao một số lượng vàng thô 10k nhất định cho Linh để chế tác gia công thành các sản phẩm vàng hoàn chỉnh giao cho chị Q, còn số vụn vàng cùng sản phẩm lỗi trong quá trình gia công do Linh chịu trách nhiệm quản lý nhưng không được mang ra khỏi nhà số 39 ngõ 383 Phúc Tân, có ký nhận sổ sách. Đến khi thấy số vụn vàng cùng sản phẩm lỗi nhiều, Linh tự đi nung chảy để thành sản phẩm vàng thô rồi giao lại. Tại cửa ra vào của nhà chị Q có bố trí người sử dụng máy dò kim loại kiểm soát việc người ra khỏi nhà có mang vàng ra hay không. Từ ngày 02/3/2021 đến ngày 27/3/2021, lợi dụng việc chị Q thiếu kiểm soát quản lý vàng, Linh nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và đã lén lút để riêng một phần vàng thô sau nung và sản phẩm lỗi cho vào trong vỏ bao thuốc lá, cuốn băng dính kín lại rồi ném qua cửa sổ tầng 5 xuống lòng đường bên dưới vào trước giờ nghỉ trưa, chiều. Sau đó đến giờ nghỉ trưa hoặc sau khi hết giờ làm việc buổi chiều, Linh đi ra khỏi nhà nhặt bao thuốc chứa vàng trên rồi thuê anh Dương Mạnh Tú (Sinh năm: 1985, Nơi cư trú: 57 Hàm Tử Quan, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) là xe ôm chở tới Cửa hàng vàng bạc Vân Trường tại địa chỉ 68 Vĩnh Tuy, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội gặp chị Phạm Thị Vân (Sinh năm: 1984, Nơi cư trú: Số 1 ngõ 34 Vĩnh Tuy, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) là chủ cửa hàng để bán số vàng lấy được. Hai bên thỏa thuận giá 1.850.000 đồng/1 chỉ vàng loại 10k, thanh toán chuyển tiền vào tài khoản số 234596071 mang tên Nguyễn Đăng Ltại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng, còn lại một ít đưa tiền mặt cho Linh. Số tiền mặt có được từ việc bán số vàng đã trộm cắp, Linh tiếp tục yêu cầu anh Tú chở đến Cửa hàng cung cấp dịch vụ Viễn thông Viettel tại 30 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội gặp anh Nguyễn Viết Võ (Sinh năm: 1976, Nơi cư trú: 18A ngõ 113 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) để chuyển số tiền 10.600.000 đồng vào tài khoản số 234596071 mang tên Nguyễn Đăng Ltại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Còn lại một ít tiền lẻ, Linh giữ lại để chi tiêu cá nhân và trả tiền thuê anh Dương Mạnh Tú chở đi. Theo đối chiếu sổ sách giữa Linh và chị Q thì trong tháng 3 Linh đã trộm cắp 135,732 chỉ vàng loại 10k của chị Q bán lấy tiền chi tiêu vào mục đích cá nhân.

Chị Hoàng Thị Q khai phù hợp với lời khai Nguyễn Đăng Lvà khai: sau khi chốt sổ từ ngày 02/3/2021 đến hết ngày 27/3/2021, chị Q đã giao cho Linh tổng số 6.713,69 chỉ vàng 10k, Linh đã trả tổng số 5.342,77 chỉ vàng cùng 52,79 chỉ mạt vàng nên Linh còn thiếu là 205,3 chỉ vàng. Tính theo công thức khấu hao hao hụt 0,3% cho phép thỏa thuận giữa chị Q và Linh thì 5.392,77 chỉ vàng được khấu hao là 16,178 chỉ vàng nên tổng số vàng Linh chiếm đoạt là 135,732 chỉ vàng, tính theo giá trị nhập vào là 2.160.000 đồng/1 chỉ vàng thì Linh chiếm đoạt của chị Q tổng số tiền là 293.181.120 đồng. Chị Q yêu cầu xử lý Linh theo quy định pháp luật, yêu cầu Linh phải bồi thường số tiền 293.181.120 đồng.

Chị Phạm Thị Vân khai phù hợp với lời khai Nguyễn Đăng Lvà khai: Chị Vân đang ở cửa hàng địa chỉ 68 Vĩnh Tuy thì Linh đến, giới thiệu mình là thợ kim hoàn, quản lý nhiều thợ khác nên thu gom được nhiều sản phẩm thừa, hỏng, vụn vàng và đề nghị bán số vàng đó cho chị Vân. Chị Vân đồng ý, hai bên thỏa thuận giá bán 1.850.000 đồng/1 chỉ vàng loại 10k, chị Vân chuyển khoản số tiền mua vàng vào tài khoản ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng với số tài khoản là 234596071 mang tên Nguyễn Đăng Linh, còn lại đưa tiền mặt cho Linh. Từ ngày 02/3/2021 đến ngày 26/3/2021, chị Phạm Thị Vân đã sử dụng 02 tài khoản số 1500527 và 233662429 của Ngân hàng Á Châu chuyển vào tài khoản của Nguyễn Đăng Ltổng cộng 40 lần với tổng số tiền là 201.430.000 đồng. Số vàng mua được từ Linh, chị Vân đã bán hết cho khách.

Anh Nguyễn Việt Võ khai phù hợp với lời khai Nguyễn Đăng Lvà khai: Anh Võ đang ở cửa hàng tại 30 Bạch Đằng thì Linh đến nhờ chuyển tiền nên anh Võ sử dụng tài khoản 19034237912015 ngân hàng Techcombank chuyển tiền vào tài khoản của Linh với mức phí 10.000 đồng/500.000 đồng tiền chuyển khoản. Tổng cộng từ ngày 02/3/2021 đến ngày 26/3/2021, anh Nguyễn Viết Võ đã 06 lần chuyển tiền vào tài khoản của Linh với tổng số tiền là 10.600.000 đồng.

Anh Dương Mạnh Tú khai phù hợp với lời khai Nguyễn Đăng Lvà khai: Anh Tú làm nghề xe ôm tại khu vực ngã tư Hàm Tử Quan – Phúc Tân. Trong khoảng tháng 3/2021 thường xuyên được Linh đến thuê chở đi đến 68 Vĩnh Tuy và 30 Bạch Đằng sau đó trả tiền cho anh Tú (mỗi lần khoảng 60.000 đồng). Anh Tú không biết Linh ở đâu hay có cầm theo đồ vật gì không khi thuê chở đến 2 địa chỉ trên cũng không biết Linh làm gì tại 02 địa chỉ trên.

01 chỉ vàng 10k = 3,75 gam, tính theo kết luận giám định số 175 ngày 11/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận Hoàn Kiếm với trị giá của 01 mẫu vàng có hàm lượng vàng là 41,62%, khối lượng 3,64 gam có trị giá 2.109.700 đồng nên 01 chỉ vàng 10k = 2.173.454,67 đồng. Tổng trị giá 135,732 chỉ vàng 10k Linh chiếm đoạt của chị Q là 295.000.000 đồng. Căn cứ chuyển khoản giữa chị Vân và Linh từ ngày 02/3/2021 đến ngày 26/3/2021 thể hiện nhiều lần chuyển khoản số tiền lớn hơn 5.000.000 đồng (ngày 04/3/2021 chuyển số tiền 7.000.000 đồng, ngày 08/3/2021 chuyển số tiền 6.000.000 đồng) thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, là tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với anh Dương Mạnh Tú, chị Phạm Thị Vân và anh Nguyễn Việt Võ xét thấy đều không biết việc Linh có hành vi Trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với số vàng tạm giữ của Chị Hoàng Thị Q, ngày 24/8/2021 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị Q, chị Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị khác.

Tại bản cáo trạng số 228/CT-VKS ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Đăng Lvề tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố, Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “thành khẩn khai báo”. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; Về trách nhiệm dân: bị cáo phải bồi thường cho Chị Hoàng Thị Q 295.000.000 đồng; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đăng Lđã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Trong khoảng thời gian từ ngày 02/3/2021 đến ngày 26/3/2021 tại số 39 ngõ 383 Phúc Tân, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Nguyễn Đăng Lđã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tổng số 135,732 chỉ vàng loại 10k có trị giá 295.000.000 đồng của Chị Hoàng Thị Q. Tài sản không thu hồi được, Linh chưa bồi thường thiệt hại cho chị Q.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu; bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nên bị cáo phải bồi thường cho Chị Hoàng Thị Q số tiền 295.000.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

V× c¸c lÏ trªn!

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Lphạm tội “Trộm cắp tài sản”;

2. ¸p dông điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng L08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 20/5/2021

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Điều 584; Điều 585; 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho Chị Hoàng Thị Q số tiền 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án thì bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian và khoản tiền chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Đăng Lphải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải nộp 14.750.000 (Mười bốn triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

Cỡ chữ