vanban.org

Bản án 222/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đào Phương T được ly hôn anh Phạm Văn N.

Về nuôi con chung: Giao hai con chung là cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2005 và Phạm Phương M, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2012 cho chị Đào Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đào Phương T được ly hôn anh Phạm Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25/9/2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn ”

NHÂN DANH

-

:

-

:

: Ông Lê Tiến Dũng

Ông Nguyễn Lộc

-

: Ông Đỗ Đức Chính là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.

-

: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.

25

9 năm 2019

97/2019/TLST- HNGĐ

16/5/2019 “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”,

1127 /2019/QĐXX- ST

8 năm 2019

:

- Nguyên đơn: Chị Đào Phương T, sinh năm 1980, có mặt

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn D, huyện U, tỉnh Bình Định.

-

n: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1977, vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn D, huyện U, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2019

Đào Phương T

:

Về hôn nhân: Chị T đăng ký kết hôn với anh Phạm N tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện U, tỉnh Bình Định

12/3/2004 (Giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01). Sau khi kết hôn vợ chồng chị T, anh N sống hạnh phúc đến đầu năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng mà nguyên nhân chính là do anh N không chăm lo cho gia đình, không có trách nhiệm với vợ con mà đam mê cờ bạc; từ đó vợ chồng luôn xảy ra cãi vã nhau. Bản thân chị T đã nhiều lần khuyên bảo anh N không chơi cờ bạc và chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng Anh không từ bỏ. Do vậy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn anh N.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Khánh L, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2005 và Phạm Phương M, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2012. Hiện các con đang ở với chị T. Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

đơn anh Phạm Văn N: Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản,

, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy

theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 a Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Phạm Văn N không đến tòa và không có văn bản ghi ý kiến của anh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: khi thụ lý vụ án cho đến khi xét

.Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao hai con chung cho chị T nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không xét. Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định của luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh N theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng N không đến tòa và cũng không có văn bản ghi ý kiến của anh gởi cho Tòa án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Đào Phương T và anh Phạm Văn N là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh N không có trách nhiệm với vợ con và gia đình mà thường xuyên chơi cờ bạc. Sự việc đã được chị T và hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần để anh N từ bỏ tệ nạn xã hội nói trên và chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh N không từ bỏ. Từ đó, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, mâu thuẫn gia đình ngày càng căn thẳng.

, anh N c

N

. Cho thấy tình cảm vợ chồng chị T, anh N thực sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy nếu có duy trì, bảo vệ hạnh phúc của chị T, anh N chắc chắn không mang lại kết quả gì. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị T được ly hôn anh N.

Về nuôi con chung: Chị T và anh N có hai con chung là cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2005 và cháu Phạm Phương M, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2012. Hiện các con đang ở với chị T. Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, hiện nay các con đang ở với chị T nên để đảm bảo và ổn định cuộc sống của các cháu nên giao các con cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh N không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T. Khi cần thiết chị T, anh N đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Nghĩa vụ về tài sản: Không xét.

Về án phí: Chị Đào Phương T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn

T

0000782

16/5/2019

.

,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dựng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đào Phương T được ly hôn anh Phạm Văn N.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2005 và Phạm Phương M, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2012 cho chị Đào Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở, nhưng anh N không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T. Khi cần thiết chị T, anh N đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Chị Đào Phương T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn

.

Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của anh N tính từ ngày anh N nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện U, tỉnh Bình Định.

: -

;

Cỡ chữ