- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mỹ L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 221/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/12/2024 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phước và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: anh Bùi Thanh L, sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn chị Lcó mặt. Bị đơn anh L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L trình bày:
Sau hai năm tìm hiểu, chị với anh Bùi Thanh L quyết định chung sống với nhau vào năm 2005, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, cùng nhau làm ăn để lo cho cuộc sống gia đình. Đến năm 2008 anh L bắt đầu chơi số đề, ăn nhậu thường xuyên. Năm 2011 anh L nghiện ma túy phải đi trại cai nghiện hai năm. Sau khi cai nghiện trở về anh L lao vào ăn chơi như cá độ, đá gà, tài xỉu gây ra nợ nần nhiều lần chị phải trả nợ thay. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh L vẫn không thay đổi mà càng ngày chơi càng nhiều hơn. Nhận thấy anh L không có trách nhiệm với gia đình, vợ con nên chị quyết định ly hôn. Nay chị Lyêu cầu như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mỹ L xin được ly hôn với anh Bùi Thanh L.
+ Về quan hệ con chung: có một con chung tên Bùi Phạm Gia H sinh ngày 22/8/2009. Sau ly hôn chị Lyêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn anh Bùi Thanh L: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh L nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh L vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị Lệ.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Phạm Thị Mỹ L đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn Bùi Thanh L chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử: chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của của bà Phạm Thị Mỹ L.
Về hôn nhân: bà Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với ông Bùi Thanh L.
Về con chung: giao con chung tên Bùi Phạm Gia H sinh ngày 22/8/2009 cho bà Lệ trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Liêm không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Bùi Thanh L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Bị đơn anh Bùi Thanh L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L.
Về nội dung:
Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Bùi Thanh L chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 355/KH ngày 18/10/2005. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Mỹ L, thấy: Trong quá trình sống chung giữa chị Lvà anh L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh L thường xuyên ăn nhậu, chơi cá độ, đá gà, lắc tài xỉu gây ra nợ buộc nhiều lần chị Lphải trả nợ thay. Chị Lđã nhiều lần khuyên nhủ và cho anh L cơ hội để thay đổi nhưng không có kết quả từ đó dẫn đến không còn tình cảm với anh L nên chị Lkiên quyết xin được ly hôn. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh L vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị Lđể xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Lvà anh L không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lệ.
Về quan hệ con chung, thấy: qua chứng cứ chị Lcung cấp thì chị Lvới anh L có một con chung tên Bùi Phạm Gia H sinh ngày 22/8/2009. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 12/11/2024 nguyện vọng của cháu Hạo là được trực tiếp sống cùng với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Chị Lcũng đồng ý với ý kiến của cháu. Trong quá trình giải quyết, anh L cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến tranh chấp về phần con chung. Xét thấy, có đủ căn cứ để giao con chung Gia Hạo cho chị Ltrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lkhông yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là căn cứ.
Về án phí: chị Llà nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Mỹ L.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Bùi Thanh L.
- Về quan hệ con chung:
Giao con chung Bùi Phạm Gia H sinh ngày 22/8/2009 cho chị Phạm Thị Mỹ L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh Bùi Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Bùi Thanh L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về tài sản chungvà nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí: chị Phạm Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011543 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Phạm Thị Mỹ L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Bùi Thanh L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.