- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Võ Thị S và bị đơn ông Phạm Thanh T về…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 221/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-8-2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm;
2. Ông Võ Thanh Nhàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 378/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 494/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị S, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị S trình bày, qua thời gian tự tìm hiểu nhau, bà S và ông Phạm Thanh T kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C vào ngày 03/7/2020. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Võ Nhật V, sinh ngày 16/3/2021. Hiện tại, cháu V đang do bà S chăm sóc, nuôi dưỡng.
Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông T không lo làm ăn, không chăm lo kinh tế gia đình, không quan tâm đến vợ. Bà S và ông T không còn sống chung từ tháng 3/2022 cho đến nay, không tới lui thăm nhau và không liên lạc với nhau.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà S yêu cầu được ly hôn với ông T; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Võ Nhật V, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 03/7/2020 do Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C cấp cho bà Võ Thị S và ông Phạm Thanh T (bản sao); Giấy khai sinh số 36, ngày 25/3/2021 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định cấp đối với Phạm Võ Nhật V (bản sao).
- Bị đơn ông Phạm Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà S và ông T kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà S, ông T hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 08 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống. Tháng 3 năm 2021, bà S về quê sinh con, ông T đi làm tại tỉnh Long An. Từ khi bà S sinh con cho đến nay, ông T chỉ về thăm con được 03 lần, không cấp dưỡng nuôi con, không có trách nhiệm với gia đinh. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà S yêu cầu ly hôn với ông T.
Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày về yêu cầu khởi kiện của bà S.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà S và ông T xuất phát từ việc bất đồng trong sinh hoạt. Khi bà S sinh con, ông T không quan tâm đến gia đình. Từ khi bà S khởi kiện cho đến nay, ông T không có ý kiến phản hồi. Từ đó cho thấy, vợ chồng không tạo điều kiện hàn gắn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà S yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà S, giao cháu V cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, do bà S không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không đề cập giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S đối với ông T; bà S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Võ Nhật V; ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Võ Thị S khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Thanh T. Đồng thời, ông T cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Võ Thị S vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Phạm Thanh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà S, ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Bà S và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà S xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông T không lo làm ăn, không chăm lo kinh tế gia đình, không quan tâm đến vợ. Bà S, ông T không còn sống chung từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà S và ông T thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông T nhưng ông T không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà S. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà S, ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà S xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Phạm Võ Nhật V, sinh ngày 16/3/2021. Bà S yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, con chung đang được bà S chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển n định. Do đó, để đảm bảo n định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu V cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu V nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà S không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị S.
1. Về hôn nhân: Bà Võ Thị S được ly hôn với ông Phạm Thanh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 03/7/2020 do Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C cấp cho bà Võ Thị S và ông Phạm Thanh T không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Võ Thị S được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Võ Nhật V, sinh ngày 16/3/2021. Ông Phạm Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Võ Thị S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Thanh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đ i người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm:
Bà Võ Thị S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013669 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 5 năm 2023; bà Võ Thị S đã nộp đủ án phí.
Ông Phạm Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Bà Võ Thị S, ông Phạm Thanh T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện C (1); - UBND thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |