- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Triều Anh T và đồng phạm trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221/2022/HSST Ngày 27-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
Ông Lê Thành Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23, 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 223/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Lê Triều Anh T, sinh năm 1994, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: Khóm 7, thị trấn TVT huyện TVT, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Ấp AT, xã PA, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Lê Trọng H, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Tuyết H, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Lê Hồng S, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 18/6/2022 bị cáo bị bắt tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát đến ngày 27/6/2022 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đỗ Xuân T1, sinh năm 1983 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi đăng ký thường trú: Thôn QT2, xã KN, huyện TS, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở: Ấp DS, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Xuân N, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 và có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 18/6/2022 bị cáo bị bắt tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát đến ngày 27/6/2022 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn CL Bình Dương; địa chỉ: Khu số 4, Khu công nghiệp Quốc tế Protrade, xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp Lồ Ồ, xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Triều Anh T là công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn CL Bình Dương Paper (gọi tắt: Công ty CL), địa chỉ: Ấp DS, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Công việc của T là quản lý kho vật tư tại công trình xây dựng xưởng 2 của Công ty CL. Đỗ Xuân T1 bán căng tin tại Công ty CL.
Trong thời gian bán căng tin tại Công ty CL, T1 quen biết với đối tượng tên Hùng (không rõ nhân thân lai lịch) là người hay đến uống nước. Hùng có nói cho T1 biết là T có thùng dây cáp điện muốn gửi T1 giữ giùm sẽ cho T1 tiền uống nước và cho T1 số điện thoại của T để T1 liên hệ với T. Sáng ngày 16/6/2022, T1 dùng số điện 0825825999 nhắn tin và kết bạn qua mạng xã hội (Zalo) qua số điện thoại 0822181929 của T thì T đồng ý kết bạn. T nói với T1 là T có thùng hàng dây cáp điện trộm được của Công ty CL nhờ T1 cất giữ giùm khi nào bán được sẽ cho T1 tiền thì T1 đồng ý và nói với T đợi, khi nào căng tin vắng khách thì T1 kêu T chở đến.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/6/2022, T điều khiển xe nâng hàng vào kho nguyên liệu của Công ty CL rồi lén lút lấy thùng hàng bên trong có 48 đoạn dây cáp điện chở qua quán nước của T1. T để thùng hàng dây cáp điện phía sau quán nước của T1 rồi quay lại kho làm việc bình thường. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T1 mở thùng dây cáp điện lấy 38 đoạn dây cáp điện mang ra bãi cỏ phía sau căng tin cất giấu, số còn lại T1 cất vào thùng đựng gỗ để bên trong căng tin của mình.
Khoảng 08 giờ sáng ngày 18/6/2022, anh Nguyễn Ngọc H là bảo vệ của Công ty đi kiểm tra, phát hiện 38 đoạn dây cáp điện tại bãi cỏ phía sau căng tin của T1 nên trình báo Công an xã An Tây. Sau đó, vụ việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
+ 48 đoạn dây cáp điện loại EVERTOP 0.6/1(1.2) KV Cu/XLPE/PVC 185mm x3C +95mm’x 10), trọng lượng là 345kg.
+ 01 (một) Điện thoại di động hiệu Redmi gắn sim số 0825825999 của Đỗ Xuân T1 và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO gắn sim số 0822181929 của Lê Triều Anh T.
Theo Kết luận định giá tài sản số 76/KLĐG ngày 24/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 48 đoạn dây cáp điện loại EVERTOP 0.6/1(1.2) KV Cu/XLPE/PVC 185mm x3C +95mm’x 10), tổng trọng lượng 345kg tổng trị giá là 37.008.919 đồng.
Ngày 10/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả 48 đoạn dây cáp điện loại EVERTOP 06/1(1.2) KV Cu/XLPE/PVC 185mm x3C +95mm’x 10), tổng trọng lượng là 345kg cho ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện hợp pháp của Công ty CL. Ông Hải không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đỗ Xuân T1 và Lê Triều Anh T.
Tại bản Cáo trạng số 220/CT-VKSBC ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Lê Triều Anh T và Đỗ Xuân T1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Triều Anh T và Đỗ Xuân T1, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Triều Anh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 58; của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Đỗ Xuân T1 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời hạn thử thách theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX tuyên: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Redmi và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với quyết định truy tố, điều khoản áp dụng, mức hình phạt, và xử lý vật chứng của Viện Kiểm sát.
Tại phiên tòa, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các bị cáo, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Lê Triều Anh T và Đỗ Xuân T1 đã khai nhận: Ngày 17/6/2022, tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn CL Bình Dương Paper thuộc ấp Dòng Sỏi, xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Lê Triều Anh T có hành vi lén lút lấy trộm 48 đoạn dây cáp điện trọng lượng là 345kg trị giá là 37.008.919 đồng rồi chở đến giao cho Đỗ Xuân T1 cất giấu tại khu vực căng tin bên trong Công ty CL nhằm mục đích sau đó đem bán lấy tiền tiêu xài. Đỗ Xuân T1 biết trước số tài sản là do T trộm cắp của Công ty mà có nhưng vẫn đồng ý cất giấu giúp T ở khu vực căng tin do T1 quản lý nhằm mục đích được nhận tiền công từ T.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Xét các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do vậy, Cáo trạng số 220/QĐ-KSĐT ngày 30/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được HĐXX cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi được và trao trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo T có ông ngoại là liệt sĩ, bị cáo T1 có cha là người có công với cách mạng, người đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Bị cáo T1, T đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, riêng bị cáo T1 có vợ và con đều bị bệnh nặng, bị cáo là lao động chính, duy nhất trong nhà. Do đó, các bị cáo được HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tính chất đồng phạm trong vụ án.
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó người nảy sinh ý định và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là bị cáo Lê Triều Anh T. Bị cáo Đỗ Xuân T1 không tham gia trực tiếp vào việc trộm cắp tài sản nhưng bị cáo T1 có hành vi hứa hẹn và thực tế đã giúp cho T che giấu tài sản trộm cắp tài sản trộm cắp mà có.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật, nên được HĐXX chấp nhận.
Về mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Lê Triều Anh T, Đỗ Xuân T1: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ và con đều bị bệnh nặng nếu áp dụng hình phạt tù giam đối với các bị cáo sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của vợ và con của bị cáo.
Xét về hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị cáo: Tài sản chưa di chuyển ra khỏi vị trí quản lý tài sản của chủ sở hữu là kho nguyên liệu thuộc phân xưởng 2 của Công ty ra vị trí phía sau căng tin do T1 quản lý. Như vậy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó HĐXX quyết định sẽ áp dụng hình phạt treo cho các bị cáo có cơ hội đi làm, tạo thu nhập nuôi sống gia đình, có chi phí lo chữa bệnh cho vợ và con.
Về trách nhiệm dân sự: Xét tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi lại được và giao trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với các công cụ, phương tiện phạm tội có giá trị gồm: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Redmi và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Triều Anh T và Đỗ Xuân T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Lê Triều Anh T mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (ba) năm, khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2022 đến ngày 27/6/2022.
Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân T1 mức án mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (ba) năm, khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2022 đến ngày 27/6/2022.
Trong thời gian thử thách, bị cáo T, T1 được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Lê Triều Anh T cho Ủy ban nhân dân xã Phú An, thị xã Bến Cát giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đỗ Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã An Tây, thị xã Bến Cát giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xã nơi được giao để giám sát phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với các công cụ, phương tiện phạm tội có giá trị gồm: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Redmi và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2022 giữa Công an thị xã Bến Cát và Chi cục THADS thị xã Bến Cát).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Triều Anh T và Đỗ Xuân T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - UBND xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lại Thị Ngọc Bích |