vanban.org

Bản án 221/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/02/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 221/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2022.
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

Ông Nguyễn Thành Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng– Kiểm sát viên.

Ngày 28/02/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 494/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Minh T, sinh năm 1997 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: 43/18 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh), sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Quốc tịch: Hoa Kỳ.

Địa chỉ: 4025 X Y GA 30340 USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày của bà Võ Thị Minh T:

Bà và ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/9/2016, vào sổ đăng ký kết hôn số 165, quyển số 1/2016 ngày 22 tháng 9 năm 2016. Sau khi kết hôn, ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) trở về Mỹ sinh sống và làm việc. Từ khi trở về Mỹ, ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) thỉnh thoảng có liên lạc với bà. Trong thời gian này thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm lối sống và không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2018 thì giữa bà và ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) không còn liên lạc. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, không có khả năng đoàn tụ gia đình nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) để ổn định cuộc sống. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Minh T khai không có. Vì bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Bị đơn là ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh), trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ: Tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày, giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Thư khởi kiện yêu cầu ly hôn (văn bản ủy thác tư pháp số 39/TTTPDS-TA30 ngày 15/01/2021). Ngày 29/7/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 2144/BTP-PLQT ngày 21/7/2021; Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 12/5/2021 bằng phương thức chuyển cho người sống chung cùng đương sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn bà Võ Thị Minh T; Bị đơn ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) đều vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị Minh T, Hội đồng xét xử nhận thấy bà Thư và ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) hiện cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu của bà Võ Thị Minh T yêu cầu ly hôn ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh), Hội đồng xét xử xét thấy: Theo như bà Thư trình bày, sau khi kết hôn ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) trở về Mỹ sinh sống, làm việc thỉnh thoảng có liên lạc, trong thời gian này thì phát sinh mâu thuẫn. Mặt khác do thời gian xa cách kéo dài, hoàn cảnh mỗi người mỗi nơi nên không có điều kiện gần gũi, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về phía ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh), Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho ông theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông không có phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này cũng chứng tỏ là ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa.

Xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau thực hiện các công việc trong gia đình. Trong khi vợ chồng bà Thư và ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) mỗi người một nơi, không quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thư được ly hôn ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh).

Con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Minh T khai không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Võ Thị Minh T được ly hôn ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Án phí, chi phí tố tụng khác:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Võ Thị Minh T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về phí ủy thác tư pháp và các chi phí khác bà Võ Thị Minh T chịu theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Minh T và ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Minh T. Quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Minh T được ly hôn ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh). Giấy chứng nhận kết hôn 165, quyển số 1/2016 do Ủy ban nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22 tháng 9 năm 2016 cho bà Võ Thị Minh T và ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) không còn giá trị pháp lý. Con chung: Không có Tài sản chung, nợ chung: Không có. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Minh T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0092862 ngày 20/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Thư đã nộp đủ. 3. Bà Võ Thị Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Huynh S Vo (S Võ Huỳnh) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ