vanban.org

Bản án 221/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Ng cho đến khi thi hành xọng khoản tiền trên, hàng tháng anh T, chị Kh phải chịu khoản țiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Về án phí dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Ng -Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 221/2022/DS-ST
Ngày 28 - 12 - 2022
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Hoàng Bo.

Ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 463/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2022/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1956; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Huỳnh Kim Kh, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Bà Nguyễn Thị Ng trình bày: Bà có tham gia hụi do vợ chồng anh Nguyễn Văn T, chị Huỳnh Kim Kh làm đầu thảo, cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất: Loại hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/4/2019 âl, mỗi tháng mở 02 lần, gồm có 54 chưng, bà tham gia 02 chưng, góp được 45 kỳ thì anh T, chị Kh đình hụi vào ngày 15/01/2021 âl, số tiền anh T, chị Kh nợ bà là 45 kỳ x 500.000 đồng x 02 chưng = 45.000.000 đồng. Dây hụi này đã mãn.

Dây hụi thứ hai: Loại hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 30/01/2020 âl, mỗi tháng mở 02 lần, gồm có 42 chưng, bà tham gia 01 chưng, góp được 26 kỳ thì anh T, chị Kh đình hụi vào ngày 15/01/2021 âl, số tiền anh T, chị Kh nợ bà là 26 kỳ x 1.000.000 đồng x 01 chưng = 26.000.000 đồng. Dây hụi này đã mãn.

Dây hụi thứ ba: Loại hụi 500.000 đồng, mở ngày 30/6/2020 âl, mỗi tháng mở 02 lần, gồm có 61 chưng, bà tham gia 01 chựng, góp được 14 kỳ thì anh T, chị Kh đình hụi vào ngày 15/01/2021 âl, số tiền anh T, chị Kh nợ bà là 14 kỳ x 500.000 đồng x 01 chung = 7.000.000 đồng.

Như vậy tổng tiền hụi mà anh T, chị Kh nợ là 78.000.000 đồng. Sau đó anh T, chị Kh có trả cho bà đựợc 32.000.000 đồng, trừ tiền hoa hồng 4.000.000 dồng. Còn lai 42.000.000 đồng đến nay không trả. Bà yêu cầu anh T, chị Kh trả cho bà số tiền này.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản hợp lệ cho anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Kim Kh nhưng anh T, chị Kh không có ý kiển phản đối yêu cầu khởi kiện của bà Ng, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Kim Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng thấy rằng:

Tại Biên bản hòa giải thành ngày 12/5/2022 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, anh T, chị Kh thừa nhận nội dung bà Ng kiện các dây hụi trên là đúng và đồng ý trả số tiền 42.000.000 đồng. Tụy nhiên sau đó vợ chồng anh T, chị Kh không đồng ý trả một lần mà chỉ đồng ý trả mỗi tháng 1.000.000 đồng nên các bên không thỏa thuận được phương thức trả nợ. Sau đó bà Ng rút đơn khởi kiện, vụ án được đình chỉ, đến ngày 04/11/2022 bà Ng khởi kiện lại, dù anh T, chị Kh đã được Tòa án thông báo nội dung bà Ng khởi kiện cũng như các tài liệu, chứng cứ kèm theo nhưng không có ý kiến phản đối. Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do anh T, chị Kh thừa nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng là đúng, không phản đối nên khẳng định việc vợ chồng anh T, chị Kh làm đầu thảo hụi, khi tuyên bố vở hụi, chi trả được 32.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 42.000.000 đồng là có thật. Việc vợ chồng anh T, chị Kh không trả nợ làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Ng, vi phạm nghĩa vụ góp hụi nên buộc vợ chồng anh T, chị Kh trả cho bà Ng số tiền trên là phù hợp theo quy định tai Diêu 471 của Bộ luật Dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Ng được chấp nhận nên anh T, chị Kh phải chịu án phí dân sự 5% tương ứng với số tiền phải trả cho bà Ng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 5, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 440 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng. Buộc anh Nguyễn Văn T và chị Huỳnh Kim Kh có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ng số tiên 42.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Ng cho đến khi thi hành xọng khoản tiền trên, hàng tháng anh T, chị Kh phải chịu khoản țiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Ngụyễn Văn T và chị Huỳnh Kim Kh liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.100.000 đồng (hai triệu một trǎm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Ng có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh T, chị Kh có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ