vanban.org

Bản án 221/2020/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 19/09/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.V.T, bà P.T.H.N, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H. Hủy một phần Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 về việc hủy, điều chỉnh nội dung thông báo thu hồi đất của các ông (bà): N.V.T và vợ bà P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H; Hủy Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "N.V.T - UBND quận L.B"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 157 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 221/2020/HC-ST
Ngày: 19/9/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực đất đai.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Đức Thọ.

2. Bà Bùi Thị Thu Giang.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Trần Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thanh phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 19/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 56/2020/TLST-HC ngày 03/3/2020 về việc khiếu kiện đối với quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2020/QĐXX-HCST ngày 09/9/2020, giữa các đương sự:

Ngƣời khởi kiện:

1. Ông N.V.T, sinh năm 1961.

2. Bà P.T.H.N, sinh năm 1971.

Cùng trú tại: Số 8, đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.

3. Ông N.V.N, sinh năm 1957.

Trú tại: Số 65, Hàng Than, phương Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

4. Ông N.V.B, sinh năm 1958.

Trú tại: Số 8, đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.

5. Bà P.T.M.H, sinh năm 1977.

Trú tại P110 – A4, TT Công ty cơ khí Hà Nội, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp cho người khởi kiện: Ông N.V.T là người đại diện theo ủy quyền cho ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.H.N, bà P.T.M.H (Hợp đồng ủy quyền ngày 10/3/2020 tại Văn phòng công chứng Long Biên, số công chứng 906/2020, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD). (Có mặt).

Ngƣời bị kiện:

1. Ủy ban nhân dân quận L.B, Thành phố Hà Nội.

2. Chủ tịch UBND quận L.B, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Số 01 phố Vạn Hạnh, phường V.H, quận L.B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp cho người bị kiện: Ông Nguyễn Mạnh Hà là người đại diện theo pháp luật của người bị kiện (Chức vụ: Chủ tịch UBND quận L.B)

Ông Vũ Xuân Trường, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND quận L.B là người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện (Văn bản ủy quyền: Giấy ủy quyền tham gia tố tụng hành chính số 160/GUQ-2020 ngày 26/3/2020). (Có đơn xin xét xử mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:

1. Ông Vũ Phương Đông, chức vụ: Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường quận L.B.

2. Ông Lê Trọng Đạo, chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường quận L.B.

(Thông báo về việc cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng ngày 18/9/2020). (Có đơn xin xét xử mặt)

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

UBND phường N.T, quận L.B, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Số 270, Ngọc Thụy, phường N.T, quận L.B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc Văn là người đại diện theo pháp luật của UBND phường N.T (Chức vụ: Chủ tịch UBND phường N.T).

Ông Nguyễn Hữu Thanh, chức vụ: công chức địa chính là người đại diện theo ủy quyền của UBND phường N.T (Giấy ủy quyền số 06/GUQ-UBND ngày 10/8/2020). (Có đơn xin xử mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, các ngƣời khởi kiện ông N.V.T, bà P.T.H.N, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H trình bày:

Ngày 19/8/2011, ông N.V.T và vợ bà P.T.H.N được Ủy ban nhân dân quận L.B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 439233 tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số 14 diện tích 582m2 tọa lạc tổ 17 phường Thượng Thanh, quận L.B, TP. Hà Nội.

Năm 2017, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H làm đơn khởi kiện vợ chồng ông N.V.T, bà P.T.H.N yêu cầu chia thửa đất nêu trên. Tại Tòa án, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H và vợ chồng ông N.V.T, bà Phạm Thị Hồng đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân quận L.B đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đưong sự số 05/2017/QĐST-DS ngày 20/6/2017 (Có sơ đồ phân chia và bàn giao mốc giới quyền sử dụng đất kèm theo). Quyết định của Tòa án đã công nhận nội dung: Thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, diện tích 582 gồm 480m2 đất ở và 102m2 đất vườn, tại địa chỉ tổ 17, phường N.T, Long Biên, Hà Nội thuộc quyền sử dụng chung của ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H, vợ chồng ông N.V.T, bà P.T.H.N. Phân chia thửa đất cụ thể: Vợ chồng ông Toàn, bà Hồng được hưởng diện tích 327m2; Ông N.V.N hưởng diện tích 85m2; Ông N.V.B hưởng diện tích 85m2; Bà P.T.M.H hưởng diện tích 85m2. Sau đó, 05 người cùng đi làm thủ tục tách thửa và sang tên nhưng do đất vào vị trí quy hoạch nên chưa làm được thủ tục trên.

Ngày 10/8/2017, Ủy ban nhân dân quận L.B có ra Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án giải phóng mặt bằng các ô đất theo Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến Khu đô thị mới Thượng Thanh, quận L.B với nội dung:

Thu hồi đất của hộ gia đình ông N.V.B địa chỉ: Tổ 17 phường N.T, quận L.B, TP. Hà Nội; Diện tích đất dự kiến thu hồi khoảng 85m2 tại thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14 thuộc phường N.T.

Thu hồi đất của hộ gia đình bà P.T.M.H, địa chỉ: Tổ 17 phường N.T, quận L.B, TP. Hà Nội; Diện tích đất dự kiến thu hồi khoảng 85m2 tại thửa đất số 8-2 thuộc tờ bản đồ số 14 thuộc phường N.T.

Thu hồi đất của hộ gia đình ông N.V.N, địa chỉ: Tổ 17 phường N.T, quận L.B, TP. Hà Nội; Diện tích đất dự kiến thu hồi khoảng 85m2 tại thửa đất số 8-3 thuộc tờ bản đồ số 14 thuộc phường N.T.

Ngày 07/9/2017, Ủy ban dân quận L.B ra Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án giải phóng mặt bằng các ô đất theo Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh, quận L.B với nội dung: Thu hồi đất của hộ gia đình ông N.V.T, địa chỉ: Tổ 17 phường N.T, quận L.B, TP. Hà Nội; Diện tích đất dự kiến thu hồi khoảng 15,9m2 tại thửa đất số 8 thuộc tờ bản đồ số 14 thuộc phường N.T.

Ngày 27/9/2018, Ủy ban nhân dân quận L.B đã ban hành Dự thảo phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ gia đình ông N.V.T và bà P.T.H.N với nội dung sẽ bồi thường diện tích bị thu hồi với số tiền 184.233.300 đồng. Đối với các hộ gia đình ông N.V.B, ông N.V.N, bà P.T.M.H sẽ được bồi thường bằng đất tái định cư với diện tích như bị thu hồi.

Ngày 17/6/2019, Ủy ban nhân dân quận L.B đã ban hành Thông báo số 188/TB-UBND về việc hủy, điểu chỉnh một phần nội dung thông báo thu hồi đối với 05 hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức hợp đồng BT với nội dung hủy, điều chỉnh một phần nội dung Thông báo thu hồi đất đối với 05 hộ gia đình, cá nhân trong đó có ông N.V.T, bà P.T.M.H, ông N.V.B, ông N.V.N với lý do sai sót trong quá trình điều tra, kiểm điếm và hủy nội dung thông báo thu hồi đất ngày 10/8/2017, giữ nguyên các thông báo thu hồi đất khác. Tức là điều chỉnh nội dung thông báo thu hồi đất ngày 07/9/2017 của ông N.V.T là họ tên chủ sử dụng đất là N.V.T và vợ là P.T.H.N, N.V.T, N.V.B, P.T.M.H với diện tích dự kiến bị thu hồi là 270,9m2.

Ngày 25/10/2019, Ủy ban nhân dân quận L.B ban hành Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND về việc kiểm điểm bắt buộc đối với các hộ gia đình trên.

Ngày 02/12/2019, Ủy ban nhân dân quận L.B ban hành Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc.

Sau khi nhận các văn bản trên, ông N.V.T, bà Phạm Thị Hồng, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H không đồng ý với thông báo và các quyết định của Ủy ban nhân dân quận L.B.

Ngày 25/2/2020, ông N.V.T, bà Phạm Thị Hồng, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết: Hủy Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019; Hủy Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 về việc kiểm điểm bắt buộc; Hủy Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 của UBND quận L.B về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc.

Đại diện theo ủy quyền của ngƣời bị kiện trình bày quan điểm về nội dung khởi kiện:

Ủy ban nhân dân quận L.B không chấp nhận yêu cầu hủy các văn bản: Thông báo số 188/TB-UBND của UBND quận L.B; Quyết định số 1860/QĐ-UBND ngày 25/10/2019 về việc kiểm đếm bắt buộc đối với 05 hộ gia đình và Quyết định số 2241/QĐ-UBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, bởi lẽ:

Ngày 25/3/2014, UBND quận L.B có thông báo số 195/TB-UBND về việc thông báo thu hồi đất thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thuỵ đến Khu đô thị mới Thượng Thanh (dự án BT) và các ô quy hoạch hai bên đường (dự án khác: Dự án do Nhà đầu tư thực hiện để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận) đối với toàn bộ diện tích nằm trong ranh giới của dự án.

Thực hiện Luật đất đai 2013, UBND quận L.B đã ban hành thông báo thu hồi đất riêng đến từng hộ, trong đó có hộ ông N.V.T (thông báo ghi tên Đỗ Khánh Toàn, tuy nhiên, số tờ bản đồ, số hiệu thửa đất trùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông N.V.T và bà P.T.H.N), diện tích dự kiến thu hồi: 270,9 m2.

Đến năm 2017, UBND phường Ngọc Thuỵ nhận được phiếu chuyển số 06/2017/PG-TALB ngày 16/5/2017 của Toà án nhân dân quận L.B về việc hoà giải tranh chấp đất đai giữa ông N.V.N, ông N.V.B và bà P.T.M.H với hộ gia đình ông N.V.T và bà P.T.H.N. Ngày 20/6/2017, Toà án nhân dân quận L.B có quyết định số 05/2017/QĐST-DS công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Ngày 10/8/2017 và ngày 07/9/2017, UBND quận L.B đã thông báo thu hồi đất đối với 04 hộ gia đình ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H, ông N.V.T có đất nằm trong ranh giới dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thuỵ đến Khu đô thị mới Thượng Thanh (dự án BT). Trong quá trình tổ công tác giải phóng mặt bằng công khai thông báo thu hồi đất, điều tra, kiểm đếm công trình vật kiến trúc, tài sản trên đất phục vụ công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án, UBND quận L.B nhận thấy có 04 hộ không đủ điều kiện chia tách thửa đất theo quy định do thửa đất năm trong dự án đang triến khai công tác giải phóng mặt bằng và đã có thông báo thu hồi đất nên không đủ điều kiện để người sử dụng đất làm thủ tục tách thửa theo quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự của Tòa án quận L.B.

Để xác định đối tượng thu hồi đất theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các hộ dân và tránh thất thoát tài sản, ngân sách nhà nước, ngày 17/6/2019, UBND quận L.B đã ban hành Thông báo số 188/TB-UBND về việc hủy, điều chỉnh một phần nội dung thông báo thu hồi đất đối với 05 hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thuỵ đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức hợp đồng BT.

Do trong quá trình kiểm đếm, các hộ gia đình, cá nhân trên không hợp tác nên ngày 25/10/2019, UBND quận L.B đã ban hành Quyết định số 1860/QĐ-UBND về việc kiểm đếm bắt buộc đối với 05 hộ gia đình. Ngày 02/12/2019, UBND quận L.B đã ban hành Quyết định số 2241/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiếm đếm bắt buộc đối với các hộ gia đình, cá nhân trên là đúng với quy định pháp luật.

Do đó việc người khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 188/TB-UBND của UBND quận L.B; hủy Quyết định số 1860/QĐ- UBND ngày 25/10/2019 về việc kiểm đếm bắt buộc đối với 05 hộ gia đình và Quyết định số 2241/QĐ-UBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiếm đếm bắt buộc là không có cơ sở xem xét.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phƣờng N.T trình bày:

Nguồn gốc thửa đất: Gia đình ông Lê Văn Đông sử dụng đất trước ngày 18/12/1980. Đăng ký sổ dã ngoại lập kèm theo bản đồ đo vẽ năm 1986 thuộc tờ bản đồ số 8 thửa 28, 29 diện tích 980m2. Bản đồ năm 1994-1996 thể hiện thửa đất số 8 tờ bản đồ số 14, diện tích 671m2. Gia đình ông Đông chuyển nhượng cho ông N.V.T diện tích 578m2 theo giấy khai mua bán quyền sở hữu nhà, công trình và quyền sử dụng đất trong khuôn viên, có xác nhận của UBND xã Ngọc Thụy ngày 16/1/1999.

Ngày 27/9/2010 ông N.V.T và bà P.T.H.N đã kê khai hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ngày 19/8/2011, ông N.V.T và bà P.T.H.N đã được UBND quận L.B cấp GCNQSDĐ số BĐ 439233 vào sổ cấp GCN: 814. Thửa đất số 8 tờ bản đồ số 14 diện tích 582m2. Có 480m2 đất ở và 102m2 đất vườn.

Tại phiên tòa:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND, Chủ tịch UBND quận L.B, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường N.T đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

1. Về thủ tục tố tụng:

Đối tượng khởi kiện: Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 của UBND quận L.B v/v hủy, điều chỉnh một phần nội dung thông báo thu hồi đất đối với 05 hội gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức hợp đồng BT; Quyết định sổ 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của Chủ tịch UBND quận L.B v/v kiểm đếm bắt buộc và Quyết định sổ 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 của Chủ tịch UBND quận L.B v/v cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai do cơ quan hành chính nhà nước (đối với Thông báo 188) và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước (đối với QĐ 1860, 2241) ban hành, đồng thời là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Thời hiệu khởi kiện của đương sự: Người khởi kiện làm đơn khởi kiện là đúng thời hiệu theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và HĐXX: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo qui định tại Điều 125 Luật TTHC. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thẩm phán đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn. Tuy nhiên thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử chậm, vi phạm khoản 1 Điều 130 Luật TTHC, Tòa án đã chuyển hồ sơ vụ án cho Viện KS nghiên cứu trong thời hạn theo qui định tại Điều 147 Luật TTHC. Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX đã thực hiện đúng theo qui định của PL. Việc chấp hành PL của những người tham gia tố tụng: Người khởi kiện, người bị kiện và những người liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 55; Điều 56; Điều 57 và Điều 58 Luật TTHC.

2. Xét yêu cầu khởi kiện: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai 2013, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện. Về án phí: UBND quận L.B phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.

Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đối tượng khởi kiện: Đơn khởi kiện của ông N.V.T, bà Phạm Thị Hồng, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội hủy các văn bản: Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019; Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 về việc kiểm điểm bắt buộc; Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc của UBND quận L.B. Như vậy, Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019, Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019, Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 của UBND quận L.B là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai do cơ quan hành chính nhà nước (đối với Thông báo 188) và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước (đối với QĐ 1860, 2241) ban hành, đồng thời là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015.

Về thời hiệu khởi kiện, ngày 25/2/2020, ông N.V.T, bà Phạm Thị Hồng, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H làm đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án là đảm bảo thời hiệu theo quy định điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Người đại diện cho người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 Luật tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt người bị kiện Chủ tịch, UBND quận L.B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UNND phường N.T.

Xét Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 của UBND quận L.B, thấy rằng:

Về quá trình ban hành Thông báo 188: Ngày 10/9/2013, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 5477/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu Đô thị mới Thượng Thanh, quận L.B theo hình thức hợp đồng BT.

Thực hiện Quyết định số 5477 nêu trên, ngày 10/02/2017, UBND quận L.B ban hành Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh với nội dung thu hồi đất của hộ gia đình ông N.V.T với diện tích đất dự kiến thu hồi khoảng 270,9m2. Ông N.V.T và bà P.T.H.N được UBND quận L.B cấp Giấy CNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 439233 ngày 19/8/2011, vào sổ cấp GCN: 814 đối với thửa đất số 8 tờ bản đồ số 14, diện tích 582m2 gồm 480m2 đất ở và 102m2 đất vườn. Giấy CNQSD đất ghi nợ 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích 30m2 đất ở đô thị (trong hạn mức) ngày 05/10/2012. Ngày 04/6/2020, ông N.V.T đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo thông báo số 14675/TB-CCT-TB&TK ngày 01/6/2020 của Chi cục thuế quận L.B về việc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ tài chính về thu tiền sử dụng đất.

Ngày 20/6/2017, Tòa án nhân dân quận L.B ban hành Quyết định số 05/2017/QĐST-DS công nhận sự thỏa thuận của các đương sự xác nhận thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, diện tích 582 gồm 480m2 đất ở và 102m2 đất vườn, tại địa chỉ tổ 17, phường N.T, Long Biên, Hà Nội thuộc quyền sử dụng chung của: ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H, vợ chồng ông N.V.T, bà P.T.H.N. Phân chia thửa đất cụ thể:

+ Vợ chồng ông Toàn, bà Ngân được hưởng diện tích 327m2 (trong đó: đất ở: 225m2, đất vườn: 102m2).

+ Ông N.V.N hưởng diện tích 85m2 đất ở.

+ Ông N.V.B hưởng diện tích 85m2 đất ở.

+ Bà P.T.M.H hưởng diện tích 85m2 đất ở.

Các bên đã thực hiện phân chia và bàn giao mốc giới đất cho nhau (có sơ đồ phân chia và bàn giao mốc giới quyền sử dụng đất kèm theo).

Ngày 10/8/2017, UBND quận L.B ban hành 03 Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án giải phóng mặt bằng các ô đất theo Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh, quận L.B đối với 03 hộ gia đình gồm:

Hộ gia đình ông N.V.B, địa chỉ tổ 17, phường N.T, quận L.B, Hà Nội, diện tích dự kiến thu hồi khoảng 85m2, thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, phường N.T, loại đất sử dụng: đất ở.

Hộ gia đình bà N.V.N, địa chỉ tổ 17, phường N.T, quận L.B, Hà Nội, diện tích dự kiến thu hồi khoảng 85m2, thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, phường N.T, loại đất sử dụng: đất ở.

Hộ gia đình bà P.T.M.H, địa chỉ tổ 17, phường N.T, quận L.B, Hà Nội, diện tích dự kiến thu hồi khoảng 85m2, thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, phường N.T, loại đất sử dụng: đất ở.

Ngày 7/9/2017, UBND quận L.B đã Thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án giải phóng mặt bằng các ô đất theo Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh, quận L.B đối với hộ gia đình ông N.V.T, địa chỉ tổ 17, phường N.T, quận L.B, Hà Nội, diện tích dự kiến thu hồi khoảng 15,9m2, thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, phường N.T, loại đất sử dụng: đất ở.

Tổng số diện tích đất thu hồi là 270,9m2 (phù hợp với diện tích của Thông báo ban hành ngày 10/02/2017).

Ngày 27/9/2018, UBND quận L.B ban hành 04 Dự thảo phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án Xây dựng tuyến đường từ Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức hợp đồng BT đối với 04 hộ gia đình gồm: Hộ gia đình ông N.V.T, bà P.T.H.N; Ông N.V.N; Ông N.V.B; Bà P.T.M.H.

Ngày 17/6/2019, UBND quận L.B ban hành Thông báo số 188/TB-UBND về việc hủy, điều chỉnh một phần nội dung thông báo thu hồi đất đối với 05 hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức hợp đồng BT. Lý do điều chỉnh: Do sai sót trong quá trình điều tra, kiểm đếm.

Nội dung:

1. Hủy nội dung thông báo thu hồi đất ngày 10/8/2017 đối với N.V.B, N.V.N, P.T.M.H;

2. Điều chỉnh nội dung thông báo thu hồi đất: Họ tên chủ sử dụng đất: N.V.T và vợ là P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H; địa chỉ: tổ 17, phường N.T; số thửa 8, tờ bản đồ 14; diện tích dự kiến thu hồi 270,9m2.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thuỵ đến Khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức hợp đồng BT là dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013 nên thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất giao chủ đầu tư thực hiện dự án. Thẩm quyền thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thuộc UBND cấp huyện. Do đó, UBND quận L.B ban hành Thông báo số 188/TB-UBND là đúng thẩm quyền và có căn cứ theo quy định Điều 66, 67, 69 Luật đất đai 2013.

Về căn cứ ban hành Thông báo, Hội đồng xét xử xem xét đến nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.

Về nguồn gốc đất, diện tích 270,9m2 đất thu hồi là đất ở nằm tại thửa thửa đất số 8-1 thuộc tờ bản đồ số 14, diện tích 582 gồm 480m2 đất ở và 102m2 đất vườn, địa chỉ tổ 17, phường N.T, Long Biên, Hà Nội đã được UBND quận L.B cấp Giấy CNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 439233 ngày 19/8/2011 cho chủ sử dụng đất ông N.V.T và vợ bà P.T.H.N.

Quá trình sử dụng đất, ngày 05/6/2007, ông N.V.N, ông N.V.B, chị P.T.M.H, ông Nguyễn Nguyễn Viết viết giấy thỏa thuận xác nhận chủ sử dụng đất và chia tách đất đối với thửa đất diện tích 578m2 của ông N.V.T nêu trên. Quyết định số 05/2017/QĐST-DS ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân quận L.B đã xác nhận quyền sử dụng đất đối với 04 hộ (05 người) cũng như phân chia, bàn giao mốc giới đất giữa 04 hộ đồng sử dụng đất.

UBND quận L.B nhận thấy 04 hộ không đủ điều kiện chia tách thửa đất (theo Quyết định số 05/2017/QĐST-DS của Tòa án nhân dân quận L.B) được quy định tại khoản 3 Điều 5 Quyết định số 20/QĐ-UBND của UBND Tp Hà Nội; khoản 6 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai 2013: “3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, …, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, … thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ điều luật trên thì 04 hộ gồm: N.V.T và vợ là P.T.H.N; N.V.N; N.V.B và P.T.M.H đủ điều kiện được cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích đất được xác nhận theo Quyết định số 05/2017/QĐST-DS ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân quận L.B. Nhưng tại thời điểm năm 2017 thì thửa đất trên đã có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đã có thông báo thu hồi đất không làm mất đi các quyền khác của chủ sử dụng đất. Thông báo số 188 đã điều chỉnh họ tên chủ sử dụng đất là 04 hộ gồm: N.V.T và vợ là P.T.H.N; N.V.N; N.V.B và P.T.M.H, không xác định diện tích đất cụ thể của từng hộ, cá nhân trong tổng số diện tích 270,9m2 đất. Việc không xác định diện tích đất thu hồi của từng hộ, cá nhân đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sử dụng đất theo quy định Luật đất đai 2013.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy một phần căn cứ và nội dung Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 của UBND quận L.B không đúng quy định pháp luật đất đai. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy một phần Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 liên quan đến 04 hộ gia đình ông N.V.T, bà P.T.M.H, ông N.V.N, ông N.V.B. Kiến nghị UBND quận L.B xác định cụ thể diện tích đất của từng hộ, cá nhân bị thu hồi theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2017/QĐST-DS ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân quận L.B.

Xét Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B về việc kiểm điểm bắt buộc, thấy rằng:

Xét về thẩm quyền, trình tự ban hành, Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B được ký và ban hành là đúng thẩm quyền theo quy định Luật Đất đai 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.

Xét căn cứ ban hành quyết định, Hội đồng xét xử nhận thấy Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND được ban hành căn cứ Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 của UBND quận L.B về việc hủy, điều chỉnh nội dung thông báo thu hồi đất của các ông (bà): N.V.T và vợ bà P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức BT.

Như trên đã phân tích, Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 của UBND quận L.B ban hành một phần không có căn cứ theo pháp luật. Do đó, Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B về việc kiểm điểm bắt buộc được ban hành không có căn cứ pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện hủy Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B về việc kiểm điểm bắt buộc.

Xét Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 của Chủ tịch UBND quận L.B về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc, thấy rằng:

Xét về thẩm quyền, trình tự ban hành, Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 được ký và ban hành bởi Chủ tịch UBND quận L.B là đúng thẩm quyền theo quy định Luật Đất đai 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.

Xét căn cứ ban hành quyết định, Hội đồng xét xử nhận thấy Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/201 được ban hành căn cứ: Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 của UBND quận L.B về việc hủy, điều chỉnh nội dung thông báo thu hồi đất của các ông (bà): N.V.T và vợ bà P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H để thực hiện dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến khu đô thị mới Thượng Thanh theo hình thức BT; Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B về việc kiểm điểm bắt buộc đối với các ông (bà): N.V.T và vợ bà P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H tại phường N.T, quận L.B.

Như trên đã phân tích, Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 và Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 của UBND quận L.B ban hành không có căn cứ theo pháp luật. Do đó, Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/201 của Chủ tịch UBND quận L.B về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc được ban hành không có căn cứ pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện hủy Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/201 của Chủ tịch UBND quận L.B về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm

UBND, Chủ tịch UBND quận L.B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hành chính;

Điều 66, 67, 69, 100 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.V.T, bà P.T.H.N, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H.

Hủy một phần Thông báo số 188/TB-UBND ngày 17/6/2019 về việc hủy, điều chỉnh nội dung thông báo thu hồi đất của các ông (bà): N.V.T và vợ bà P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H; Hủy Quyết định số 1860/QĐ-CTUBND ngày 25/10/2019 về việc kiểm điểm bắt buộc; Hủy Quyết định số 2241/QĐ-CTUBND ngày 02/12/2019 về việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm điểm bắt buộc của UBND quận L.B.

Kiến nghị UBND quận L.B ban hành Thông báo thu hồi đất của các ông (bà): N.V.T và vợ bà P.T.H.N, N.V.N, N.V.B, P.T.M.H xác định cụ thể diện tích đất của từng hộ, cá nhân bị thu hồi theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2017/QĐST-DS ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân quận L.B.

2. Về án phí: UBND quận L.B, Chủ tịch UBND quận L.B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)/01 người tiền án phí hành chính sơ thẩm.

Những người khởi kiện ông N.V.T, bà Phạm Thị Hồng, ông N.V.N, ông N.V.B, bà P.T.M.H không phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả ông N.V.T, bà P.T.M.H số tiền 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0013987 ngày 27/2/2020 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

3. Người khởi kiện có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ