- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221 /2019/HS-ST Ngày 27/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Thu
- Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phạm Chương Dương
2 – Bà Trần Thị An
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông V Anh Tuấn– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Tp Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2019/TLHS-ST ngày 12/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2019/QĐXXST-HS ngày 15/11//2019 đối với các bị cáo:
Nguyễn Đức P - sinh năm 1997; HKTT: Số 20 H, phường N, B, Tp H; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức Thịnh (đã chết) và bà Ngô Thị Thúy Bình; Theo Lý lịch địa phương cung cấp và DCB số 274 ngày 05/9/2019 tại công an quận Ba Đình: tiền án tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 03/9/2019; - Có mặt tại phiên tòa;
* Người bị hại: - Anh Nguyễn Hoài L, sinh năm 1982; HKTT và nơi ở: s Số 20 H, phường N, B, Tp H; (vắng mặt tại phiên tòa);
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Tuấn V , sinh năm 1996; HKTT: thôn Quyết Tâm, xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng, Lào Cai; Nơi ở: số 196 phố Văn Hợi, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội; (vắng mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h ngày 30/6/2019, Nguyễn Đức P khi đi từ nhà tại tầng 2 số nhà 20 Hòe Nhai, phường Nguyễn Trung Trực, Ba Đình, Tp Hà Nội để xuống tầng 1, lúc đi qua nhà anh Nguyễn Hoài L, P phát hiện thấy cửa nhà anh L đang mở, trên bàn có để 01 chiếc ĐTDĐ Samsung Galaxy S2 và 01 chiếc Ipad. P quan sát thấy vợ chồng anh L không có nhà, trong nhà chỉ có 02 cháu nhỏ con anh L đang chơi ở phòng trong nên L đã đi vào nhà trộm cắp 01 Ipad màu vàng và 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy S2 màu trắng để ở trên bàn đối diện cửa chính. Sau khi trộm cắp tài sản, P đi đến quán Internet ở phố Hàng Gà, quận Hoàn Kiếm (không xác định được địa chỉ cụ thể) chơi điện tử. Tại đây P gặp và cho một người bạn tên là “Bờm” chiếc ĐTDĐ Samsung Galaxy S2 vừa trộm cắp được, còn chiếc Ipad thì P mang đến cửa hàng mua bán điện thoại cũ ở số 30 Trần Quý Cáp, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Hà Nội bán được 1.300.000 đồng. Đến ngày 03/9/2019, Nguyễn Đức P đến cơ quan điều tra đầu thú (BL53).
Vật chứng thu giữ gồm: 01 máy tính Ipad Air màu vàng số Serial DMRS7K3CG5WO bọc ốp màu đen đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KLĐG/HĐ ngày 23/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Ba Đình kết luận: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Ipad Air màu Gold (vàng) đã qua sử dụng trị giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy S2 đã qua sử dụng trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) (BL24).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. Lời khai của P phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (BL 54 đến 68).
Đối với đối tượng tên Bờm, do P khai không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Hoàng Tuấn V , người mua chiếc Ipad Air màu vàng của P, khi mua chiếc Ipad trên V không biết là tài sản do P phạm tội mà có nên CQĐT không xử lý. Anh V đã tự nguyện giao nộp chiếc Ipad trên cho cơ quan điều tra phục vụ điều tra vụ án. Anh V không yêu cầu P phải hoàn trả số tiền 1.300.000 đồng. (BL73,76,78).
Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Hoài L chiếc Ipad Air màu Gold, anh L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự, anh L không yêu cầu Nguyễn Đức P phải bồi thường chiếc ĐTDĐ Samsung Galaxy S2 không thu hồi được (BL 85,104,105).
Tại bản cáo trạng số 217/CT-VKS ngày 08/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, bị cáo Nguyễn Đức P bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm I, s khoản 1,2 Điều 51 Điều 38 BLHS. Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Tài P từ 06 đến 09 tháng tù; Truy thu của bị cáo số tiền 1.300.000 đồng, là tiền bị cáo hưởng lợi từ việc bán 01 Ipad Air màu Gold (vàng). Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại và các biên bản tài liệu khác có trong hồ sơ, đấy đủ cơ sở để kết luận: khoảng 22h ngày 30/6/2019, tại nhà anh Nguyễn Hoài L ở số 20 Hòe Nhai, phường Nguyễn Trung Trực, Ba Đình, Tp Hà Nội, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của gia đình anh L, bị cáo Nguyễn Đức P đã lén lút lẻn vào nhà anh L và nhanh chóng thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc ĐTDĐ Samsung Galaxy S2 và 01 chiếc Ipad Air Gold, P dùng tay trái cầm chiếc điện thoại rồi nhét vào túi quần, dùng tay phải cầm chiếc Ipad rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đối với chiếc điện thoại P cho bạn xã hội tên Bờm, còn chiếc Ipad P bán được 1.300.000 đồng đã tiêu sài cá nhân hết. Sau đó đến ngày 03/9/2019 Nguyễn Đức P đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá là 11.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Đức P đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu người khác, gây mất trật tự ổn định xã hội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 (bị cáo đầu thù) điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về dân sự nên tòa không xem xét giải quyết.
. Bị cáo Nguyễn Đức P được hưởng lợi số tiền 1.300.000 đồng từ hành vi phạm tội nên cần thiết phải truy thu để xung quỹ ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 106, Điều 299, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2019.
Truy thu của bị cáo số tiền là 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng) để xung công quỹ nhà nước.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội - VKSND quận Ba Đình - Công an quận Ba Đình - Thi hành án quận Ba Đình - Những người tham gia tố tụng;Lưu HS | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |