vanban.org

Bản án 220/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ là 36.175.119 đồng (Ba mươi sáu triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn một trăm mười chín đồng), trong đó: Nợ vốn là 27.280.644 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 31/3/2026 là 8.894.475 đồng, thực hiện khi án c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S - Nguyễn Thị Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2026/DS-ST
Ngày: 31/3/2026
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền.

Các Hội thẩm nH dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân

2. Ông Nguyễn Văn Vui

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Quyên - Thư ký Tòa án nH dân khu vực 2 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nH dân khu vực 2 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2026/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2026, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2026/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2026/QĐST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: Đường N, phường XH, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh N.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh T - Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Tiền Giang kiêm Trưởng phòng giao dịch GC. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Đường Võ Duy L, phường GC, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 2002. (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: Khu phố SQ, phường S, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 10 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 10/01/2024, chị Nguyễn Thị Ngọc H có ký kết với Ngân hàng TMCP S - Phòng giao dịch GC hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Căn cứ thu nhập của chị H, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Do chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 5 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nên ngày 22/8/2025 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 6 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ của ngân hàng. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị H phải trả ngay tổng số tiền là 36.175.119 đồng, gồm nợ vốn là 27.280.644 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 31/3/2026 là 8.894.475 đồng, thực hiện trả 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật. Sau ngày xét xử sơ thẩm, chị H còn phải thanh toán thêm tiền lãi, lãi chậm trả phát sinh theo hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khu vực 2 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 91, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” cần được xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

- Quá trình giải quyết vụ án, chị H không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không phản đối chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đối chiếu với quy định tại Điều 91 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xem như phía bị đơn tự từ bỏ quyền chứng minh và mặc nhiên thừa nhận các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp.

- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Chị H có vay của ngân hàng S số tiền 30.000.000 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ cá nhân số 3094954 ngày 10/01/2024. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn từ ngày 22/8/2025; tính đến ngày 31/3/2026, chị H còn nợ lại ngân hàng S tổng số tiền là 36.175.119 đồng, gồm nợ vốn là 27.280.644 đồng và nợ lãi quá hạn là 8.894.475 đồng. Do chị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được hai bên thỏa thuận và ký kết trong hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng nên việc ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh như nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

- Kể từ ngày 01/4/2026, chị H còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ cá nhân số 3094954 ngày 10/01/2024 đã ký kết cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

Về án phí sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 1.808.800 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát khu vực 2 - Đồng Tháp là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ là 36.175.119 đồng (Ba mươi sáu triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn một trăm mười chín đồng), trong đó: Nợ vốn là 27.280.644 đồng và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 31/3/2026 là 8.894.475 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 01/4/2026, chị H còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ cá nhân số 3094954 ngày 10/01/2024 đã ký kết cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị H phải chịu 1.808.800 đồng.

- Hoàn lại Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 799.800 đồng theo biên lai thu số 0000358 ngày 08/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ