vanban.org

Bản án 220/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị N và ông Trần Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 205, quyển số: 02/2014 ngày 16/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị N và ông Trần Văn T không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về quan hệ nuôi con: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn về mâu thuẩn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị N và ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 220/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08/4/2025
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thảo Vy và Ông Lê Cao Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang-Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ số: 06/2025/TLST.HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 115/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 161/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Bà Lê Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa bà Lê Thị N và ông Trần Văn T do tự nguyện tìm hiểu quen biết nhau và tiến đến hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 205, quyển số: 02/2014 ngày 16/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xảy ra tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Cả hai đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Văn T.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày 21/8/2014 và Trần Thị Huỳnh A, sinh ngày 15/01/2020. Hiện cháu T1 đang sống chung với ông Trần Văn T; khi ly hôn bà Lê Thị N đồng ý cho ông Trần Văn T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày 21/8/2014, còn cháu Trần Thị Huỳnh A đang sống chung với bà N nên bà N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Thị Huỳnh A, sinh ngày 15/01/2020. Bà N và ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung lẫn nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Trần Văn T không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Lê Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 18/3/2025, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Lê Thị N. Ông Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Trần Văn T vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị N và ông Trần Văn T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Lê Thị N và ông Trần Văn T là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị N, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Trần Văn T không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị N. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị N là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Văn T.

Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Trần Văn T1 và Trần Thị Huỳnh A, lời trình bày của bà Lê Thị N thì bà và ông Trần văn T có con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày 21/8/2014 và Trần Thị Huỳnh A, sinh ngày 15/01/2020, bà Lê Thị N và ông Trần Văn T đang nuôi dưỡng, chăm sóc.

Xét thấy, con chung được bà Lê Thị N và ông Trần Văn T giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập nên bà Lê Thị N yêu cầu được nuôi con và đồng ý cho ông Trần Văn T được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày 21/8/2014 cho ông Trần Văn T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và Trần Thị Huỳnh A, sinh ngày 15/01/2020 cho bà Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Lê Thị N và ông Trần Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Lê Thị N và ông Trần Văn T và các thành viên trong gia đình của bà Lê Thị N và ông Trần Văn T không được cản trở bà Lê Thị N và ông Trần Văn T thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi

Bà Lê Thị N không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con, ông Trần Văn T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị N trình bày giữa bà và ông Trần Văn T về tài sản chung và nợ chung là không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Trần Văn T để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về án phí: Bà Lê Thị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị N và ông Trần Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 205, quyển số: 02/2014 ngày 16/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị N và ông Trần Văn T không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về quan hệ nuôi con: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày 21/8/2014 và Trần Thị Huỳnh A, sinh ngày 15/01/2020.

2.1.Giao con chung chưa thành niên tên Trần Văn T1, sinh ngày 21/8/2014 cho ông Trần Văn T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và Trần Thị Huỳnh A, sinh ngày 15/01/2020 cho bà Lê Thị N được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Bà Lê Thị N và ông Trần Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Bà Lê Thị N và ông Trần Văn T và các thành viên trong gia đình của bà Lê Thị N và ông Trần Văn T không được cản trở bà Lê Thị N và ông Trần Văn T thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2.2. Bà Lê Thị N không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con và ông Trần Văn T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị N trình bày tài sản chung và nợ chung giữa bà và ông Trần Văn T là không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009268 ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Lê Thị N đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị N và ông Trần Văn T vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ