- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 220/2024/HSST Ngày 22/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 230/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Anh T, giới tính: Nam, sinh năm 2002 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi thường trú: Tổ dân phố 5, Thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H, tỉnh Đk; Nơi cư trú hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Bùi Đức C và bà Bùi Thị H; chưa có vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giam từ ngày 25/01/2024 tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh- có mặt.
Bị hại: Ông Ngô Hải Đ, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú: 39/16 đường số 10, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh– vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 37 phút, ngày 25/01/2024, đi bộ tìm tài sản sơ hở để lấy trộm, khi đi đến trước nhà thuốc Long Châu, địa chỉ: 28 đường Phú Châu, khu phố 4, phường Tam Phú, thành phố Thủ Đức thì T phát hiện có 01 chiếc xe mô tô, biển số 68K1-051.16 đang dựng trên lề đường trước nhà thuốc Long Châu có cắm chìa khóa sẵn đang không có người trong coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản chiếc xe mô tô trên nên đi đến dắt xe mô tô xuống đường Phú Châu. Khi leo lên xe ngồi, nổ máy xe định chạy thì bị anh Ngô Hải Đ là chủ chiếc xe môtô trên phát hiện nên tiến hành tri hô “cướp, cướp”. Đồng thời, anh Đ từ trong nhà thuốc Long Châu chạy bộ ra dùng tay phải chụp lấy áo thun màu đen của T và làm rách áo nhưng vẫn lấy chiếc xe mô tô trộm chạy đi anh Đ tiếp tục chạy bộ đuổi theo. Lúc này, anh Nguyễn Hoàng Khang đứng gần đó chứng kiến sự việc nên điều khiển xe mô tô đuổi theo với anh Ngô Hải Đ đến trước giao lộ đường số 7 và đường Tô Ngọc Vân thuộc khu phố 5, phường Tam Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì anh Khang đuổi kịp nên ép xe làm T té ngã xuống đường tại giao lộ trên, bỏ lại chiếc lại và chạy bộ được khoảng 10 mét đến trước nhà số 08 đường số 7, khu phố 5, phường Tam Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị anh Đ và anh Khang bắt giữ được giao cho Công an phường Tam Phú tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với, cùng vật chứng là chiếc xe mô tô biển số: 68K1-051.16.
Bản kết luận định giá số 93-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 30/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức kết luận 01 (một) xe mô tô Sirius hiệu Yamaha màu xanh, biển số 68K1-051.16; số máy: 5HU2-13138; số khung: 5HU2-13138 trị giá 3.667.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 215/CTVKS-TPTĐ ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Anh T. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Anh T 09 đến 01 năm tù.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo Bùi Anh T phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:
Khoảng 10 giờ 37 phút, ngày 25/01/2024, Bùi Anh T lén lút trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha sirius màu xanh, biển số 68K1-051.16 trị giá 3.667.000 đồng của ông Ngô Hải Đ tại nhà thuốc Long Châu, địa chỉ số 28 đường Phú Châu, khu phố 4, phường Tam Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Anh T đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội đã được thu hồi và trả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản và không yêu cầu gì thêm.
[5]. Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha sirius màu xanh, biển số 68K1-051.16; số máy: 5HU2-13138; số khung: 5HU2-13138 của anh Ngô Hải Đ đã trả cho bị hại;
- 01 (một) áo thun màu đen đã bị rách thu giữ của Bùi Anh T thì cần tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) USB (ghi nhận hình ảnh nội dung vụ trộm cắp tài sản) lưu theo hồ sơ.
[8]. Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun màu đen đã bị rách thu giữ của Bùi Anh T.
(Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/219C ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về án phí: Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Bùi Anh T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b, điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Thủ Đức; - Công an Tp. Thủ Đức; - Bị cáo; - Bị hại; - Chi cục THADS Tp.Thủ Đức; - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |