vanban.org

Bản án 220/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đào Nguyễn Khánh D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đào Nguyễn Khánh D : 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đoàn Nguyễn Khánh Duy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ C
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2023/HSST
Ngày 13-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Từ Thị Ngọc Duyên;

Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Đào Nguyễn Khánh D , sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký địa chỉ thường trú tại: Không; chỗ ở: Số 513/36, tổ 36, khu 5, phường N, thành phố M, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên: Đào Văn Q (đã chết), mẹ tên: Nguyễn Thị Mộng Tr , sinh năm 1969;

Tiền án:

- Ngày 21/5/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 02/12/2019. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 03/9/2020, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng ngày 07/8/2020.

- Ngày 20/9/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 02/3/2021. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 19/01/2023, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng ngày 07/12/2021.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 14/6/2019, bị cáo bị Công an phường N, thành phố M, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thực hiện ngày 03/6/2019. Bị cáo chấp hành xong ngày 03/9/2019.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đoàn Thanh H , sinh năm 1988; thường trú tại: Ấp S, xã Đ, huyện T, tỉnh N; chỗ ở hiện nay (không có đăng ký tạm trú): Ấp C, xã T, thành phố Q, tỉnh KG; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đào Nguyễn Duy Kh, sinh năm 2003; thường trú tại: D513/36, khu 5, phường C, thành phố M, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh , sinh năm 1989; thường trú tại: Số 798, Lê Hồng Ph , khu 3, phường T, thành phố M, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Quang Đ , sinh năm 1985; thường trú tại: Khu phố 8, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

4. Chị Tôn Nữ Hồng V , sinh năm 2000; thường trú tại: Thôn M, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Nguyễn Khánh D có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng 01 giờ ngày 23/3/2023, nam thanh niên tên A (không rõ họ tên, nhân thân) điện thoại cho D qua Facebook Messenger để rủ D đi tìm tài sản lấy trộm đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, D đồng ý và hẹn gặp A tại khu vực Chùa Bà thuộc phường P, thành phố M. Sau đó, D rủ Đào Nguyễn Duy Kh (sinh năm: 2003, HKTT: khu 5, phường C, thành phố M, tỉnh Bình Dương) là em ruột của D cùng đi trộm cắp tài sản thì Kh đồng ý. Sau đó, Kh điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số: 86B2 – 538.39 chở D đi đến điểm hẹn gặp An và gặp thêm một nam thanh niên tên N (không rõ họ tên, nhân thân). Tại đây, Khánh giao xe mô tô biển số: 86B2-538.39 cho D điều khiển chở Kh , còn A điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu đen (không rõ biển số) chở N đến khu vực phường C, thị xã C, tỉnh Bình Dương tìm tài sản lấy trộm.

Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, D , Kh , A và N đến trước Ki ốt của anh Đoàn Thanh H , địa chỉ tại cạnh đường ĐH2 thuộc khu phố 7, phường C, thị xã C, tỉnh Bình Dương thì dừng lại. Lúc này D , N xuống xe đi lại dùng tua vít và mỏ lết mang theo phá khóa cửa vào bên trong tìm tài sản, còn A và Kh đứng ngoài đường cảnh giới. Khi vào trong nhà, N lục tìm lấy được 01 ví da màu xanh để trong hộc bàn máy tính, đưa cho D kiểm tra bên trong ví, lấy được 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi để ví lại trên bàn máy tính. Khi N và D đang tiếp tục lục tìm tài sản thì A thấy lực lượng Công an phường C tuần tra nên A điều khiển xe mô tô hiệu Exciter (không rõ biển số) đến dừng trước nhà anh H và báo cho D , N biết. Lúc này, N chạy ra ngồi lên xe để A chở chạy thoát, còn D chạy ra ngoài đường ném số tiền 1.000.000 đồng vừa lấy trộm được xuống lề đường thì bị lực lượng Công an đến mời D và Kh đến Công an phường C, thị xã C làm việc. Tại đây, D và Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi tham gia trộm cắp tài sản của mình. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hiện trường nhưng không thu giữ được số tiền 1.000.000 đồng bị lấy trộm. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ, chưa xử lý: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen của Đào Nguyễn Khánh D ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, vàng Gold của Đào Nguyễn Duy Kh .

Vật chứng thu giữ, đã xử lý: Xe mô tô hiệu Vision màu đen xám, biển số: 86B2-538.39 do chị Tôn Nữ Hồng V đứng tên đăng ký. Ngày 20/5/2021, anh Nguyễn Quang Đ mua lại xe mô tô biển số: 86B2-538.39 của chị Tôn Nữ Hồng V . Đến ngày 25/02/2023, anh Đ bán xe lại cho chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh . Sau đó, chị Nh cho Đào Nguyễn Duy Kh mượn xe sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát xử lý vật chứng, đã giao trả xe trên cho chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh .

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/6/2023, Đào Nguyễn Duy Kh đã thay bị cáo D thỏa thuận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Đoàn Thanh H i. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương:

- Bị cáo D thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm số tiền 1.000.000 đồng của anh Hải và số tiền này bị cáo đã tác động Đào Nguyễn Duy Kh thay bị cáo bồi thường xong cho anh H . Ngoài lấy trộm số tiền trên thì bị cáo không lấy trộm tài sản nào khác của anh H .

- Bị hại anh Đoàn Thanh H trình bày: Anh bị mất trộm số tiền 1.000.000 đồng và 01 đồng hồ hiệu ORIENT màu vàng, dây da màu xanh; nhưng không nhớ chủng loại, mẫu mã và thời gian mua sử dụng. Anh H đã được bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Tôn Nữ Hồng V trình bày: Xe mô tô hiệu Vision màu đen xám, biển số: 86B2-538.39 do chị đứng tên đăng ký. Ngày 20/5/2021, chị bán xe lại cho anh Nguyễn Quang Đ , chưa làm thủ tục sang tên, hiện xe không thuộc quyền sở hữu của chị, chị không có yêu cầu gì.

Anh Nguyễn Quang Đ trình bày: Ngày 20/5/2021, anh mua lại xe mô tô biển số: 86B2-538.39 của chị Tôn Nữ Hồng V . Đến ngày 25/02/2023, anh Đ bán xe lại cho chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh , đã giao tiền, xe đầy đủ.

Chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh trình bày: Ngày 20/5/2021 chị ua lại xe mô tô biển số: 86B2-538.39 của anh Nguyễn Quang Đ . Quá trình sử dụng, chị Nh cho Đào Nguyễn Duy Kh mượn xe sử dụng làm phương tiện đi lại, việc Kh dùng xe làm phương tiện phạm tội chị không biết. Ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã C xử lý vật chứng, đã giao trả xe trên cho chị, chị không có yêu cầu gì.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số 212/CT – VKSBC ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đào Nguyễn Khánh D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa;

- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Đào Nguyễn Khánh D đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đào Nguyễn Khánh D từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/6/2023, Đào Nguyễn Duy Kh đã thay bị cáo D thỏa thuận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Đoàn Thanh H . Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã C tuyên: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng vàng gold là phương tiện phạm tội.

- Bị cáo D thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố; thống nhất về tội danh, mức hình phạt được thể hiện tại Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội trở lại xã hội, lao động và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:

Tại phiên toà, bị cáo Đào Nguyễn Khánh D khai nhận: Khoảng 02 giờ ngày 23/3/2023, tại nhà của anh Đoàn Thanh H thuộc khu phố 7, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Dương, Đào Nguyễn Khánh D cùng Đào Nguyễn Duy Kh và 02 nam thanh niên tên A, N (không rõ nhân thân) có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 1.000.000 đồng của anh Đoàn Thanh H . Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Sơ đồ hiện trường, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Xét thấy, số tiền bị cáo trộm cắp là 1.000.000 đồng, nhưng do bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, do đó, hành vi của bị Đào Nguyễn Khánh D đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết rõ việc lấy trộm tài sản của người khác là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo tác động anh Đào Nguyễn Duy Kh thay bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 ồng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Về biện pháp tư pháp:

4.1 Trách nhiệm dân sự: Ngày 20/6/2023, Đào Nguyễn Duy Kh đã thay bị cáo Duy, thỏa thuận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Đoàn Thanh H . Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xử lý.

4.2 Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen (bị bung phần trên giữa máy và màn hình, không kiểm tra được Model, số IMEI) của Đào Nguyễn Khánh Duy và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, vàng Gold (không kiểm tra được Model, số IMEI) của Đào Nguyễn Duy Kh là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với xe mô tô hiệu Vision màu đen xám, biển số: 86B2-538.39. Ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã C xử lý vật chứng, đã giao trả xe trên cho chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh , nên không đặt ra xủ lý.

Đối với 02 nam thanh niên tên An, Nam do chưa xác định rõ được họ tên, địa chỉ cụ thể nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi trộm cắp của Đào Nguyễn Duy Kh , do số tiền bị chiếm đoạt không đủ định lượng cấu thành tội phạm và có nhân thân tốt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Khánh. Ngày 20/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Nguyễn Duy Kh phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” là phù hợp.

Đối với lời khai của bị hại về việc bị lấy trộm 01 đồng hồ hiệu ORIENT màu vàng, dây da màu xanh; nhưng không nhớ chủng loại, mẫu mã và thời gian mua sử dụng. Quá trình điều tra, bị cáo và Đào Nguyễn Duy Kh xác định chỉ lấy trộm 1.000.000 đồng của anh D . Do đó, không đủ căn cứ để định giá tài sản, cũng như không đủ cơ sở để buộc tội đối với Đào Nguyễn Khánh D và đồng phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 46, 47; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Khoản 2 Điều 106; các Điều 299, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đào Nguyễn Khánh D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đào Nguyễn Khánh D : 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/6/2023, Đào Nguyễn Duy Kh đã thay bị cáo Duy, thỏa thuận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Đoàn Thanh H . Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xử lý.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen (bị bung phần trên giữa máy và màn hình, không kiểm tra được Model, số IMEI) của Đào Nguyễn Khánh D ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, vàng Gold (không kiểm tra được Model, số IMEI) của Đào Nguyễn Duy Kh .

- Đối với xe mô tô hiệu Vision màu đen xám, biển số: 86B2-538.39. Ngày 04/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát xử lý vật chứng, đã giao trả xe biển số: 86B2-538.39 cho chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh , nên không đặt ra xử lý.

(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát theo Biên bản giao nhận ngày 06/10/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Đào Nguyễn Khánh D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ