- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn thanh m"
- Tòa quyết gì? 1- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh M về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 220/2023/HNGĐ-ST Ngày 14-7-2023 V/v tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trường Hận
2. Ông Huỳnh Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Võ Hồng Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh M, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Tô Hoài X, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 17/3/2023, biên bản hòa giải ngày 04/4/2023, cùng các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Thanh M trình bày:
- Về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ: Chị Tô Hoài X và anh Nguyễn Thanh M đã được giải quyết tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại tòa án số 194/2022/QĐCNTTLH ngày 15/8/2022 của Tòa án huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 31/3/2020 theo Quyết định thỏa thuận giao con cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M có quyền thăm nôm, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. Tuy nhiên, sau khi ly hôn đến nay thì anh là người trực tiếp nuôi con do từ trước đến nay cháu T sống chung với gia đình anh. Do chị X không có chỗ ở ổn định và không có thời gian nuôi dạy, trông nôm, chăm sóc, giáo dục do bận công việc buôn bán làm ăn. Về điều kiện kinh tế gia đình, hiện anh đang sống chung với gia đình có cha và mẹ, anh là con út trong gia đình, nhà làm ruộng có diện tích đất khoảng 15 công, ngày anh đi bán bánh để kiếm thêm thu nhập. Anh xác định đủ điều kiện để nuôi con.
- Tại biên bản hòa giải ngày 04/4/2023 và tại phiên tòa chị Tô Hoài X trình bày: Chị thống nhất về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ đã được giải quyết tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 194/2022/QĐCNTTLH ngày 15/8/2022 của Tòa án huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Về con chung: Chị xác định theo Quyết định thỏa thuận đã giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị thống nhất từ khi lập gia đình với anh M thì chị làm dâu tại gia đình anh M đến ngày giải quyết ly hôn, chị ra thuê nhà trọ ở. Chị vẫn chăm sóc nuôi dưỡng cháu T khi nào anh M rướt cháu về thì chị cho về. Hiện tại chị vẫn chăm sóc tốt, cháu vẫn chưa đi học. Còn việc anh M cho rằng từ khi ly hôn cháu T ở với anh M là không có. Về kinh tến gia đình, chị xác định hiện không có công việc ổn định như phía anh M trình bày.
Tại phiên tòa anh M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con Nguyễn Thanh T.
Tại phiên tòa chị X đồng ý giao cháu T cho anh M1 trực tiếp nuôi.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 trình bày quan điểm về tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý, đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Phát biểu quan điểm về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 84, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 31/3/2020 cho anh Nguyễn Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Tô Hoài X không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về án phí, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị T2 hoài X có nơi cư trú tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Thanh M khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Anh M là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh M là nguyên đơn, chị X là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung: Anh Nguyễn Thanh M và chị Tô Hoài X đã được giải quyết tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 194/2022/QĐCNTTLH ngày 15/8/2022 của Tòa án huyện T, tỉnh Cà Mau.
Về con chung: Anh M và chị X có 01 người con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 31/3/2020. Tại Quyết định số 194 đã thỏa thuận giao con cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn đến nay thì chị X cũng không trực tiếp nuôi cháu T, cháu T từ nhỏ đến lớn sống chung với gia đình anh M nên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tại phiên tòa anh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa chị X đồng ý giao cháu T cho anh M trực tiếp nuôi.
Xét, con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 31/3/2020. Tính đến thời điểm xét xử cháu T trên 36 tháng tuổi nhưng dưới 7 tuổi nên Tòa án không ghi ý kiến, nguyện vọng của cháu được. Xét về điệu kiện nuôi con. Tại phiên tòa chị X thừa nhận hiện tại chị chưa có việc làm ổn định, chưa có thu nhập ổn định, điều kiện sống còn phụ thuộc vào gia đình chị, chưa có tài sản riêng, hiện tại chị ở nhờ nhà của người dì bên chồng. Tại Tòa chị cũng thừa nhận gia đình anh M có điều kiện nuôi cháu T tốt hơn chị. Hiện nay cháu T vẫn phát triển, khỏe mạnh bình thường. Xét yêu cầu của anh M, gia đình anh có kinh doanh mua bán, có thu nhập kinh tế ổn định, cháu T từ nhỏ đến lớn sống chung với gia đình anh M. Từ khi chị X với anh M ly hôn đến nay, ban ngày cháu T ở với chị nhưng ban đêm cháu T về gia đình anh M, gần gũi với anh M, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt.
Tại biên bản xác minh ngày 21/6/2023, được chính quyền địa phương xác định từ trước đến nay cháu Nguyễn Thanh T sống tại gia đình của anh M. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 31/3/2020 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị X không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh M phải chịu án phí sơ thẩm. Ngân hàng được miễn dự nộp án phí theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 2 Điều 92, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh M về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 31/3/2020 cho anh Nguyễn Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Tô Hoài X không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nôm, chăm sóc, nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí: Anh nguyễn Thanh M2 phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng. Ngày 20/3/2022, anh M2 đã dự nộp 300.000 đồng tại lai thu số0006396, được đối trừ. Chị Tô Hoài X không phải chịu án phí.
3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời; - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |