TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 220/2023/DS-PT Ngày: 19/05/2023 |
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc Các Thẩm phán: 1/- Ông Võ Bảo Anh. 2/- Bà Huỳnh Thị Bích Vân. - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Huỳnh Thái Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên. Trong ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2022/TLPT-DS ngày 21/12/2022 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 57/2022/DSST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 343/2022/QĐ-PT ngày 15/12/2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H. sinh năm: 1959. Địa chỉ: ấp Vĩnh M, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ. 2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T. sinh năm: 1962. Anh Nguyễn Văn K. sinh năm: 1988. Anh Nguyễn Văn L. sinh năm: 1990. Địa chỉ: ấp Vĩnh M, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ; cùng ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Nguyễn Văn L (văn bản ủy quyền ngày 05/7/2021). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Trần Thị M, Văn phòng Luật sư T thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Chị Nguyễn Thị L1. sinh năm: 1980. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. - Chị Nguyễn Thị Xuân M1. sinh năm: 1982. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. - Chị Nguyễn Thị T1. sinh năm: 1983. Địa chỉ: ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ. - Chị Nguyễn Thị Bé E. sinh năm: 1986. Cùng địa chỉ bị đơn. Các chị L1, M1, T1, E cùng ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Nguyễn Văn L (văn bản ủy quyền ngày 06/3/2020). - Anh Nguyễn Văn T2. sinh năm: 1992. - Chị Lê Thị Đ. sinh năm: 1992. - Chị Nguyễn Thị Trúc G. sinh năm: 2002. Cùng địa chỉ nguyên đơn. 4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn L. NI DUNG V ÁN: * Nguyên đn ông Nguyn Văn H trình bày: Vào ngày 26/02/1995 ông có nhận chuyển nhượng 1.444m2 đất (100m2 ODT + 1.344m2 CLN) thửa 199 của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T, do ông Q đứng tên giấy chứng nhận QSDRĐ số 689 ngày 09/4/1990 (sau này đổi thành giấy chứng nhận QSDĐ số 000058 ngày 27/4/1997) với giá 14 chỉ vàng 24k. Hai bên có lập Tờ sang nhượng đất thổ cư, có 03 người làm chứng cùng ký tên là ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T3 (là anh, chị ruột 2 ông) và ông Đặng Văn D (anh rể 2 ông). Ông đã giao đủ vàng cho ông Q và vợ chồng ông Q cũng tháo dỡ, di dời nhà về phía sau để giao toàn bộ thửa 199 cho ông sử dụng đến nay. Sau khi nhận đất, do thửa đất có rất nhiều hầm hố nên ông đã mướn chở 4.000 xuồng đất để san lấp trong khoảng hơn 01 tháng rưỡi mới xong; giá 3.000đ/xuồng, thành tiền là 12 triệu và mướn người dời đất từ xuồng thảy xuống hầm hố hết 2.000.000đ; tổng cộng là 14 triệu. Sau đó ông xây dựng nhà ở và trồng quýt trên đất, gia đình ông Q và chính quyền không ai có ý kiến gì. Ông đã nhiều lần thương lượng để làm thủ tục sang tên nhưng không thành, nên nay khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng nói trên giữa ông với ông Q, bà T để ông xin cấp giấy CNQSDĐ theo quy định. * B đn bà Nguyn Th T, anh Nguyn Văn K, anh Nguyn Văn L trình bày: Khi chồng bà T là ông Q (chết năm 2016) còn sống đã cho con là anh L thửa đất 199 nhưng chỉ nói miệng. Còn ông H cũng được ông Q cho ở nhờ trên thửa 199, không có làm giấy tờ gì, cũng không có ai làm chứng. Phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, không thừa nhận Tờ sang nhượng đất thổ cư nói trên, vì ông Q không ký tên và bà T thì không biết chữ nên không thể ký tên vào tờ sang nhượng đó. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Chị Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị Xuân M1, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị Bé E là con ông Q, bà T: thống nhất trình bày của bị đơn. + Anh Nguyễn Văn T2, chị Lê Thị Đ và Nguyễn Thị Trúc G là con ông H: thống nhất nội dung khởi kiện và yêu cầu của ông H. * Những người làm chứng: + Ông Lê Văn C (là anh em con dì ruột với ông Q, ông H); ông Nguyễn Văn P (là hàng xóm của hai bên); ông Lê Văn Ph (gọi ông Q, ông H bằng chú họ - bà nội ông là chị ruột mẹ ông Q) trình bày: Các ông không chứng kiến việc hai bên thỏa thuận chuyển nhượng đất và có làm giấy tờ hay không thì các ông không biết. Nhưng vào khoảng mùa nước của năm 1995 - 1996, các ông có nhận chở đất mướn để san lấp thửa 199. Thời gian san lấp khoảng 02 tháng đến hơn 02 tháng mới xong. Các ông chở tổng cộng khoảng 4.000 đến trên 4.000 xuồng mới san lấp xong hầm hố, ao tại thửa 199, giá khoảng 3.000đ/xuồng đất. Người thuê chở đất và trả tiền là ông H. Ông Q cũng trực tiếp tham gia chở đất san lấp thửa 199 vài ngày cùng các ông, khi không tham gia chở đất thì ông Q có tới lui thửa đất 199 xem các ông làm và có nói cho các ông biết là ông Q đã sang nhượng thửa 199 với giá 14 chỉ vàng 24k cho ông H rồi. Do đó, trong suốt thời gian các ông chở đất san lấp và quá trình ông H quản lý sử dụng đất, thì cũng không thấy ông Q và gia đình tranh chấp, cự cãi với ông H. + Ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị T3 là anh chị ruột ông H, ông Q và sống gần đó trình bày: Ông bà có chứng kiến trực tiếp việc ông H và Q cùng thỏa thuận sang nhượng thửa đất 199 cho ông H, hai bên có làm Tờ sang nhượng đất thổ cư ngày 26/02/1995 cùng ký tên còn có ông V và bà T3, ghi đầy đủ họ tên trong đó để làm bằng chứng. Việc bà T có ký tên hay không thì ông bà không biết. Giá chuyển nhượng là 14 chỉ vàng 24k, ông H đã giao trả đủ số vàng cho ông Q nên ông Q đã giao đất cho ông H quản lý sử dụng từ năm 1995 đến nay. Do đất có rất nhiều hầm hố nên ông H đã mướn người chở đất san lấp từ năm 1996. Việc san lấp diễn ra trong khoảng một thời gian dài mới xong. Đến năm 1999 ông H làm nhà ở trên đất và sau đó thì trồng quýt. Toàn bộ quá trình ông H quản lý sử dụng đất, san lấp, xây dựng nhà ở và trồng quýt đến nay cũng đã trên 20 năm, nhưng ông Q và vợ con không ai tranh cản hay có ý kiến gì. Ngoài ra ông bà cam kết và khẳng định lời khai của ông bà tại Biên bản ghi lời khai ngày 29/7/2022 đúng sự thật, trung thực, khách quan, không bị ai đe dọa, ép buộc hay mua chuộc. Còn lời khai trong biên bản hòa giải, do bị áp lực nên trình bày chưa đúng sự thật, thấy bứt rứt và áy náy trong lòng nên ông bà đã khai báo lại cho khách quan, trung thực và đúng sự thật để Tòa án xem xét. Cũng theo ông V thì cách đây khoảng 03 - 04 năm, ông có trực tiếp nghe anh K nói chuyện với ông H là yêu cầu ông H cho anh K một phần đất ngang khoảng 04m, dài khoảng 50m tại thửa đất cũng ở gần thửa 199 để làm đường đi vào đất ruộng của anh K thì anh K đồng ý đưa giấy CNQSDĐ cho ông H sang tên thửa 199, nhưng ông H không đồng ý nên chưa sang tên được. + Bà Lê Thị Bích V1 (vợ ông V) là chị dâu ông Q, ông H trình bày. Bà có nghe ông Q nói đã sang nhượng thửa 199 cho ông H rồi. Do đó, ông H đã san lấp, quản lý sử dụng đất từ năm 1995 đến nay nên bên ông Q không ai tranh chấp. Cách đây khoảng 05 năm, ông H và gia đình ông Q xảy ra cự cãi nên bà có gặp anh K nói là đất đã sang bán cho ông H rồi thì lo sang tên cho người ta cho xong đi. Anh K trả lời bà: nếu ông H cho bên anh K một bờ đất để làm đường đi vào ruộng của anh thì anh mới đồng ý đưa giấy CNQSDĐ và ký tên sang nhượng thửa đất 199 cho ông H. + Bà Nguyễn Thị S (vợ ông Đặng Văn D) là chị gái thứ 7 của ông Q, ông H và cũng là người ở kế bên thửa đất 199 trình bày: Bà và chồng là ông D có chứng kiến hai bên lập Tờ sang nhượng đất thổ cư ngày 26/02/1995, ông Q và ông H cùng trực tiếp ký tên và ghi đầy đủ họ tên trong đó; ngoài ra, còn có ông D, ông V và bà T3 cùng trực tiếp chứng kiến và ký tên làm chứng, còn bà thì không có ký. Giá chuyển nhượng là 14 chỉ vàng 24k, hai bên đã giao nhận đủ vàng. Trước khi sang đất cho ông H, thì gia đình ông Q sống tại thửa 199, nên sau đó ông Q đã tháo dỡ nhà để giao thửa đất 199 cho ông H sử dụng từ năm 1995 đến nay. Do đất có nhiều hầm hố và ao nên ông H đã thuê người chở đất san lấp trong một thời gian dài mới xong. Ông Q cũng tham gia chở đất san lấp do ông H mướn. Trong suốt quá trình san lấp, quản lý sử dụng, làm nhà trên đất, bên ông Q không ai cản trở, tranh giành và la mắng. + Anh Đặng Minh H1 (con ông D, bà S) là cháu gọi ông Q, ông H bằng cậu ruột trình bày. Nhà anh ở kế bên thửa đất 199, anh không biết việc sang nhượng đất giữa hai bên. Nhưng khi thấy ông Q tháo dỡ nhà tại thửa 199, anh có hỏi thì ông D nói là ông Q đã sang thửa đất 199 cho ông H rồi, nên dỡ nhà giao đất cho ông H. Quá trình ông H quản lý sử dụng, san lấp, làm nhà và trồng quýt anh không thấy bên ông Q tranh giành, cản trở và chửi mắng. Và anh còn thấy ông Q cũng tham gia chở đất san lấp thửa 199, vì đất có rất nhiều hầm hố và ao. Tại nhà ông D, anh còn thấy ông H hỏi ông Q mượn giấy CNQSDĐ để làm thủ tục sang tên thửa đất 199 và ông Q trả lời là giấy đất Ngân hàng đang giữ, muốn có thì ông H phải mang tiền đến Ngân hàng trả mới lấy ra được. V vic hòa gii không thành nên Tòa án nhân dân huyn Vĩnh Thnh đa ra xét x; ti Bn án s thm s: 57/2022/DS-ST ngày 13/9/2022 đã tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn H. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Tờ sang nhượng đất thổ cư) ngày 26/02/1995, giữa ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Văn H về việc ông Q và bà T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H quyền sử dụng 1.444m2 đất {trong đó có 100m2 đất ODT và 1.344m2 đất CLN (trong đó có 91,8m2 giao thông)}. Công nhận ông Q và bà T đã giao diện tích đất nói trên cho ông H và đã nhận đủ giá trị chuyển nhượng là 14 chỉ vàng 24k do ông H giao trả. Diện tích đất nói trên thuộc thửa đất số 199, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp Q, xã T, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là ấp Vĩnh M, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000058 ngày 27/4/1997 do ông Nguyễn Văn Q đứng tên. Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, đăng ký và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.444m2 đất nói trên theo quy định của pháp luật. Đề nghị UBND huyện Vĩnh Thạnh xem xét thu hồi lại giấy CNQSDĐ số: 000058 ngày 27/4/1997 do ông Nguyễn Văn Q đứng tên. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất nói trên cho ông Nguyễn Văn H. (Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định, Biên bản định giá tài sản ngày 11/3/2020 của Hội đồng định giá và Bản trích đo địa chính số: 36/TTKTTNMT ngày 02/7/2020 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường TP. Cần Thơ để xác định vị trí, kích thước, diện tích phần đất tranh chấp) Ngoài ra bn án còn tuyên v án phí, các chi phí t tng khác và quyn kháng cáo ca đng s. Ngày 26/9/2022 b đn bà Nguyn Th T, anh Nguyn Văn L np đn kháng cáo yêu cu phúc thm không chp nhn khi kin ca nguyên đn, buc ông H tháo d nhà tr li đt và yêu cu đc giám đnh ch ký ca ông Q, bà T trong t mua bán đt. Ti phiên tòa phúc thm, ngi có kháng cáo xác đnh vn gi nguyên yêu cu kháng cáo. Nguyên đn vn gi ý kin và yêu cu nh cp s thm. Lut s bo v quyn li ca b đn phát biu ý kin cho rng giao dch chuyn nhng quyn s dng đt gia hai bên ngày 26/02/1995 là không có tht, b đn ch cho nh, đ ngh bác yêu cu khi kin ca nguyên đn. Kim sát viên phúc thm phát biu ý kin: v t tng Tòa án và các đng s đã thc hin đúng quy đnh; V ni dung: mc dù giao dch chuyn nhng quyn s dng đt gia các bên có vi phm quy đnh v hình thc. Tuy nhiên, giao dch đã thc hin xong, nguyên đn đã nhn đt s dng, ct nhà, trng cây, thuê mn ngi ch đt lp hm h, ci to đt c mt quá trình thi gian dài nhng không b phía b đn phn đi hay tranh chp. B đn cũng đã nhn đ tin chuyn nhng đt. Căn c đim b.3 tiu mc 2.3 mc 2 phn II Ngh quyt 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 công nhận giao dịch chuyển nhượng giữa hai bên. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm. Căn c vào tài liu, chng c đã đc xem xét ti phiên tòa, kt qu tranh tng ti phiên tòa. NHN ĐNH CA TÒA ÁN * V th tc t tng: [1] Nguyên đn khi kin yêu cu công nhn din tích đt 1.444m2 mà v chng b đn là bà T (ông Q lúc còn sng) đã chuyn nhng cho ông theo “T sang nhng đt th c ngày 26/02/1995” đ nguyên đn đăng ký quyn s dng đt. Cp s thm xác đnh quan h “Tranh chp hp đng chuyn nhng quyn s dng đt” theo khon 3 Điu 26 B lut t tng dân s là có căn c. Nhng ngi liên quan trong v án có mt s xin đc vng mt, mt s vng không lý do nhng xét không nh hng đn vic gii quyt kháng cáo theo quy đnh ti khoản 2 Điều 294, 296 Bộ luật tố tụng dân sự, nên phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử theo quy định. * V ni dung: Sau khi xét x s thm, b đn là bà Nguyn Th T và anh Nguyn Văn L có kháng cáo. Xét kháng cáo thy rng: [2] Bị đơn không thừa nhận có việc chuyển nhượng đất cho nguyên đơn, không thừa nhận có ký tên vào Tờ sang nhượng ngày 26/02/1995, cho rằng có cho nguyên đơn ở nhờ nhưng nói miệng chứ không có giấy tờ. Trong giai đoạn sơ thẩm bị đơn xác định không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Q trong Tờ sang nhượng; tuy nhiên trong đơn kháng cáo có yêu cầu xin giám định chữ ký của ông Q. Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản vào ngày 28/3/2023 ghi nhận ý kiến của người đại diện là anh L cam kết trong thời gian 15 ngày sẽ nộp các tài liệu có chữ ký của ông Q để phục vụ cho việc trưng cầu giám định. Thế nhưng quá thời hạn quy định, phía bị đơn không cung cấp được mẫu chữ ký, xem như đã từ bỏ quyền yêu cầu. [3] Xét “T sang nhng đt th c ngày 26/02/1995” gia v chng bà T, ông Q vi nguyên đn, mc dù không có công chng, chng thc theo quy đnh tc là cha hp l v mt hình thc. Tuy nhiên, trong T sang nhng này có các anh ch em rut ca ông H, ông Q cùng ký tên làm chng là ông Nguyn Văn V, bà Nguyn Th T3 và v chng bà Nguyn Th S là ch rut nhng không ký tên mà đ cho ông Nguyn Văn D là anh r ký tên làm chng. Nhng ngi này đu còn sng (riêng ông D đã cht) và trong quá trình gii quyt v án cp s thm đã thu thp đy đ li khai ca h đu xác nhn có chng kin, có ký tên vào T sang nhng gia hai bên và cùng khng đnh v chng ông Q, bà T có ký tên bán tha đt 199, din tích 1.444m2 vi giá 14 ch vàng 24k cho ông H là có tht. [4] Ngoài ra, ông Lê Văn C (là con dì ruột của hai bên); ông Nguyễn Văn P là hàng xóm; ông Lê Văn Ph (gọi hai bên bằng chú họ - bà nội ông Ph là chị ruột mẹ ông Q) là những người được ông H thuê chở đất vào lấp hầm, hố tại phần đất tranh chấp này cùng xác định: Vào khoảng mùa nước năm 1995 - 1996, các ông có nhận chở đất mướn để san lấp thửa đất 199, thời gian san lấp khoảng 02 tháng mới xong. Các ông chở tổng cộng khoảng 4.000 xuồng đất mới lấp xong hầm hố tại thửa 199, giá 3.000đ/xuồng đất. Ngoài ra, ông Q cũng trực tiếp tham gia chở đất san lấp thửa 199 vài ngày cùng các ông. Người thuê chở đất và trả tiền là ông H. Khi không tham gia chở đất thì ông Q có tới lui xem các ông làm và có nói cho các ông biết là ông Q đã sang thửa đất 199, với giá 14 chỉ vàng 24k cho ông H rồi. Do đó, trong suốt thời gian các ông chở đất san lấp và quá trình ông H quản lý sử dụng đất, thì cũng không thấy ông Q và gia đình tranh giành hay cự cãi với ông H. [5] Mt đim c bn là: K t sau ngày 26/02/1995 phía nguyên đn nhn đt và thuê mn ngi ch đt bng xung vào lp các hm h, k c ông Q là chng, là cha ca các b đn cũng tham gia ch đt mn nh ông C, ông Nguyn Văn P và ông Lê Văn Ph đã khai. Sau đó ct nhà, trng cây, s dng đt liên tc 27 năm mà không b phía b đn phn ng hay tranh chp. Do đó, mc dù giao dch chuyn nhng gia các bên cha tuân th quy đnh v hình thc, nhng căn c vào đim b.3 tiu mc 2.3 mc 2 phn II Nghị quyết 02/2004/NQHĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015, cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/02/1995 giữa các bên, công nhận quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất nhận chuyển nhượng 1.444m2 nói trên cho nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bị đơn, cũng như lập luận bảo vệ quyền lợi của Luật sư bị đơn không có căn cứ nên không được chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên phúc thẩm phù hợp và có căn cứ nên chấp nhận bác kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm. [6] V án phí phúc thm: bà T là ngi cao tui nên đc min án phí; anh L phi chu án phí theo quy đnh. Vì các l trên; QUYT ĐNH Căn c: Khon 3 Điu 26, 148, 294, 296, khon 1 Điu 308 B lut t tng dân s; Điu 690, 705 B lut dân s năm 1995; Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015; Điu 3, 30 Lut đt đai năm 1993; Điu 166, 203 Lut Đt đai năm 2013; điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đim đ khon 1 Điều 12, 29 Ngh quyt 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban Thng v Quc hi. Tuyên x: 1/- Không chp nhn kháng cáo ca b đn bà Nguyn Th T và anh Nguyn Văn L. 2/- Gi nguyên quyt đnh bn án s thm. 3/- V án phí phúc thm: bà Nguyn Th T đc min án phí; anh Nguyn Văn L phi chu 300.000đ án phí phúc thm; chuyn s tin đã np tm ng theo Biên lai s 0006419 ngày 26/9/2022 thành án phí phúc thm, đã np xong. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án. Trng hp bn án, quyt đnh đc thi hành theo quy đnh ti Điu 2 ca Lut Thi hành án dân s thì ngi đc thi hành án dân s, ngi phi thi hành án dân s có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b cng ch thi hành án theo quy đnh ti các Điu 6, 7, 7a, 7b và 9 ca Lut Thi hành án dân s; thi hiu thi hành án đc thc hin theo quy đnh ti Điu 30 ca Lut Thi hành án dân s. TM. HI ĐNG XÉT X PHÚC THM Ni nhn : THM PHÁN-CH TA PHIÊN TÒA - Các đng s - VKSND.TPCT - TAND.H. Vĩnh Thnh. - Chi cc THADS.Vĩnh Thnh.
(đã ký) - Lu (HS - 2b). Trn Tun Quc |