vanban.org

Bản án 220/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc D – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/3/2022. * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Dương Ngọc D nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2022/HS-ST
Ngày: 29/7/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Hoàng

2. Bà Chung Kim Sang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2022/HSST ngày 06/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Ngọc D; giới tính: Nam; Sinh ngày 21/11/2000; Nơi sinh: Rạch Giá, Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số 41/5 Nguyễn T, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: Dương Ngọc Dũng; (đã chết); Mẹ: Trương Thị Anh Đào; (đã chết); Anh, chị ruột 02 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân: Ngày 29/3/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, theo bản án số 64/2016/HSST, ngày 29/3/2016, đến ngày 31/8/2017 chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam, được trích xuất có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại:

+ Bà Lâm Văn A, sinh năm 1967; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Số 22, Tôn Thất S, khu phố 5, phường Vĩnh L, thành phố Rạch G

+ Bà Nguyễn Thị Việt Tr, sinh năm: 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Số 33/23, hẻm 1 Vàm Trư, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G

+ Bà Võ Thị H, sinh năm: 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 21 Nguyễn T, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Dương Thị Ngọc M, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Số 581/14 Hai Bà Tr, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, Kiên Giang.

+ Bà Huỳnh Ngọc Y, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Số 80, lô 3, khu phố Lê Anh X, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, Kiên Giang.

NỘI DNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 15/02/2022, Dương Ngọc D mượn xe mô tô hiệu HeaSun, biển kiểm soát 68T2-4783, của ông Liêu Hoàng Phương, cư trú tại số 72, Nguyễn T, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G để đi mua cơm và mồi nhậu, khi D điều khiển xe chạy ngang nhà số 130, đường Nguyễn T, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Quang thì phát hiện 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Future Fi, màu nâu vàng, biển kiểm soát 68G1 – 352.63, (xe của chị Võ Thị H, sinh năm 1997 cho cháu là Trần Vinh Lợi, sinh năm 1994 mượn), đang đậu trước nhà không có người trông coi, nên D nảy sinh ý định trộm cắp xe trên đem bán lấy tiền tiêu xài, sau khi đi mua cơm xong thì D đi vào tiệm Internet Tấn Phát trên đường Nguyễn T, phường Vĩnh Quang gặp Nguyễn Văn Tính (sinh ngày 15/12/2005, cư trú tại số 70, hẻm 1, đường Nguyễn T, phường Vĩnh Quang), D nói với Tính lấy trộm xe mô tô thì Tính đồng ý, lúc này D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68T2-4783 chở Tính đi quan sát địa điểm để xe sau đó chở Tính lại tiệm Internet Tấn Phát còn D về nhà số 72, Nguyễn T, phường Vĩnh Quang ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì Tính đi bộ lại trước nhà số 130, đường Nguyễn T, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Quang lấy trộm xe mô tô hiệu Future Fi, màu nâu vàng, biển kiểm soát 68G1 – 352.63 và dắt về nhà của D tại số 41/5 Nguyễn T, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G để cất giấu, rồi đi bộ lại số 72, Nguyễn T, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G gặp D ra hiệu đã lấy trộm được xe, sau đó D đi về nhà cùng với Tính gỡ biển kiểm soát 68G1 – 352.63 ra và gắn biển số 68M5 – 0406 vào xe trộm cắp được, tiếp đến Tính đi bộ về nhà còn D đi ngủ chờ đến sáng đem xe đi tiêu thụ. Đến sáng ngày 16/02/2022 khi Công an phường Vĩnh Quang đến nhà D kiểm tra thì phát hiện 01 (một) xe mô tô hiệu Future Fi, màu nâu vàng, gắn biển kiểm soát 68M5 – 0406, nên đã lập biên bản thu giữ vật chứng và mời D về trụ sở Công an phường làm việc, D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Khoảng 19 giờ, ngày 07/3/2022, Dương Ngọc D cùng Nguyễn Văn Tính đang đi bộ trên đường, khi đi đến nhà số 33/23, hẻm 1, đường Vàm Trư, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, thì D phát hiện có 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Scoopy, màu nâu đen, biển kiểm soát 68D1-753.74 (xe của chị Nguyễn Thị Việt Tr cho ông Nguyễn Văn Vẹn mượn sử dụng), đang đậu trước cửa nhà, chìa khóa xe ông Vẹn để chung với chìa khóa cổng, treo trên hàng rào, sau khi phát hiện xe mô tô trên thì D và Tính cùng thống nhất trộm cắp xe mô tô trên, D đi bộ phía trước còn Tính ở lại lấy chìa khóa xe trên cổng rào mở khóa trộm xe chạy theo D, sau khi trộm được xe thì D điều khiển xe chở Tính đến nhà của Huỳnh Ngọc Y, sinh ngày 02/01/1998, địa chỉ số 80, lô 3, khu phố Lê Anh X, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, D nhờ Y đem cầm xe mô tô trộm được thì Y đồng ý (Y không biết xe trộm cắp), sau đó Y tự lấy tiền của mình đưa cho D số tiền 13.000.000 đồng, nói với D là cầm được 13.000.000 đồng, D cho Y số tiền 3.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 D và Tính chia nhau tiêu xài hết. Đến khoảng ngày 10/3/2022 thì Y điện thoại cho D đem xe đi cầm chỗ khác, thì D điện thoại cho người tên Phụng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để bán xe, sau đó đến nhà của Y lấy xe xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Scoopy, màu nâu đen, biển kiểm soát 68D1-753.74 đi cùng với Nguyễn Thái Huy, sinh ngày 15/8/1999, là chồng của Y đi đến quán cà phê 007, đường Võ Thị Sáu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá gặp Phụng bán xe được 9.000.000 đồng, đưa hết cho Huy, sau đó Phụng cho D số tiền 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

Khoảng 20 giờ ngày 11/3/2022 Dương Ngọc D cùng Nguyễn Văn Tính đi trên đường ở khu thu nhập thấp, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, khi đến trước nhà Lô 13 – căn 39 khu thu nhập thấp, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G thì D và Tính phát hiện phía trước nhà có 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu nâu, biển kiểm soát 68K1-0937 của ông Lâm Văn A, sinh năm 1967, xe không có người trông coi, nên D và Tính thống nhất trộm cắp xe mô tô trên, D đi đến ngồi xuống ghế gần chỗ xe mô tô đang đậu, quan sát cA giới cho Tính đến lấy trộm xe, lúc này Tính đi đến trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 68K1-0937 và dắt bộ về nhà của D tại số 41/5 Nguyễn T, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G để cất giấu, khi về đến nhà D và Tính dùng chìa khóa mở thử thì nổ được máy, sau đó Tính đi về nhà. Đến ngày 12/3/2022, D điện thoại cho Dương Thị Ngọc M, sinh năm 1993, cư trú tại số 581/14, đường Hai Bà Tr, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, nhờ M cầm dùm thì được đồng ý (M không biết xe trộm cắp). Đến khoảng 10 giờ ngày 15/3/2022 thì D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu nâu, biển kiểm soát 68K1-0937 đến đưa cho M đem đi cầm, chưa đem xe đi cầm được thì M bị Công an phường Vĩnh Quang mời về trụ sở làm việc và thu hồi xe mô tô nói trên.

Ngày 17/3/2022 và ngày 01/7/2022 Cơ quan cA sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can đối với Dương Ngọc D, Nguyễn Văn Tính để điều tra, tuy nhiên Tính đã bỏ trốn nên cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã và tách vụ án.

* Vật chứng đã thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 (một) đoạn Camera, chứa hình A ghi nhận từ lúc 21 giờ 52 phút 07 giây, đến 21 giờ 52 phút 31 giây, ngày 15/02/2022, thu giữ trước nhà số 130 Nguyễn T, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G, đã được thu thập vào hồ sơ vụ án.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, màu nâu vàng, số máy JC54E3056639, số khung RLHJC5384EZ036058, đã qua sử dụng, trên xe có gắn biển kiểm soát 68M5 – 0406; 01 (một) biển kiểm soát xe số 68G1 – 352.63; 01 (một) cây mở khóa hai đầu có số 10 và 14.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát 68K1-0937.

Ngày 15/6/2022, Cơ quan cA sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại tài sản cho bị hại là bà Võ Thị H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, màu nâu vàng, số máy JC54E3056639, số khung RLHJC5384EZ036058, đã qua sử dụng, gắn kiểm soát xe số 68G1 – 352.63; trả lại cho ông Lâm Văn A 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát 68K1-0937.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS, ngày 15/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, màu nâu vàng, số máy JC54E3056639, số khung RLHJC5384EZ036058, biển kiểm soát 68M5 – 0406, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 15/02/2022 có giá trị là 11.400.000 đồng, (bút lục số 44).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS, ngày 20/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu nâu, số máy F.0493, số khung F.00493, biển số 68K1-0937, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 11/3/2022 có giá trị là 15.333.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Scoopy, màu nâu đen, số máy JM31E2546647, số khung MH1JM3125KK551195, biển số 68D1-753.74, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 07/3/2022 có giá trị là 32.333.000 đồng.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt cho bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CA sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã xử lý vật chứng đúng quy định nên không đề nghị xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Thị H, Lâm Văn A đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, bị hại Nguyễn Thị Việt Tr yêu cầu Dương Ngọc D bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Dương Ngọc D nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có là 500.000 đồng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 68M5 – 0406; 01 (một) cây mở khóa hiệu VMEP, hai đầu có số 10 và 14.

- Bị cáo Dương Ngọc D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội quay về làm ăn lương thiện.

- Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Thị Việt Tr xác nhận đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo Dương Ngọc D bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong nên không yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, trong khoảng thời gian từ ngày 15/02/2022 đến 11/3/2022, lợi dụng sự sơ hở chủ quan của các chủ sở hữu trong việc trông coi và quản lý tài sản. Dương Ngọc D cùng Nguyễn Văn Tính liên tục thực hiện 03 (ba) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Vĩnh Qu, thành phố Rạch G gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Future Fi, màu nâu vàng, biển kiểm soát 68G1 – 352.63, (qua định giá tài sản có giá trị là 11.400.000 đồng), của chị Võ Thị H; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Scoopy, màu nâu đen, biển kiểm soát 68D1-753.74, (qua định giá tài sản có giá trị là 32.333.000 đồng) của chị Nguyễn Thị Việt Tr và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu nâu, biển kiểm soát 68K1-0937 (qua định giá tài sản có giá trị là 15.333.000 đồng), của ông Lâm Văn A mang đi cầm cố lấy tiền chia nhau tiêu xài. Tổng giá trị tài sản Dương Ngọc D và Nguyễn Văn Tính cùng nhau trộm cắp là 59.066.000 đồng (năm mươi chín triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Dương Ngọc D đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật lợi dụng sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút thực hiện 03 lần hành vi trộm cắp tài sản của những người bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm A hưởng xấu đến cuộc sống của những người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần và xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị kết án về hành vi cướp giật tài sản điều này thể hiện sự xem thường và bất chấp pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, xem xét tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường xong cho người bị hại, tài sản bị trộm đã được thu hồi trả lại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS khi lượng hình.

Qua đánh giá chung toàn bộ nội Dng vụ án HĐXX thấy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và khuY khích hành động tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự áp dụng khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để xem xét hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: : Bị hại Võ Thị H, Lâm Văn A đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị hại Nguyễn Thị Việt Tr yêu cầu Dương Ngọc D bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong nên không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Dương Ngọc D nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có là 500.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 68M5 – 0406; 01 (một) cây mở khóa hiệu VMEP, hai đầu có số 10 và 14.

Cơ quan cA sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại tài sản cho bị hại là bà Võ Thị H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, màu nâu vàng, số máy JC54E3056639, số khung RLHJC5384EZ036058, đã qua sử dụng, gắn kiểm soát xe số 68G1 – 352.63; trả lại cho ông Lâm Văn A 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát 68K1-0937. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan cA sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo Dương Ngọc D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b và s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố: Bị cáo Dương Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc D – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/3/2022.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Dương Ngọc D nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có là 500.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 68M5 – 0406; 01 (một) cây mở khóa hiệu VMEP, hai đầu có số 10 và 14.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Ngọc D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29/7/2022). Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ