vanban.org

Bản án 220/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội : "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Nguyễn Văn V 09(chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Cố ý gây thương tích”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho chính quyền Uỷ ban nhân dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội : "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:220/2022/HS-ST
Ngày: 12/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Lương Văn Thoại

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần

Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G , thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 208/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo: Nguyễn Văn V- Sinh năm: 1984; HKTT: Thôn V1 - xã Tr- huyện Th- tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12 - Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Văn V2, sinh năm 1965(đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1965.Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1985.Có 3 con: con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: Ngày 24/10/2020 bị Công an huyện G xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người bị hại:

Anh Nguyễn Văn C- Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Thôn Th1, xã Th2, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh

( Bị cáo V có mặt tại phiên tòa, bị hại Anh C có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/7/2022, Công an xã Ph tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm của Anh Nguyễn Văn C (sinh năm: 1990, trú tại: Th2, Th, Bắc Ninh) trình báo về việc: Khoảng 18 giờ ngày 03/7/2022 Anh C bị Nguyễn Văn V (sinh năm: 1984, HKTT: Tr, Th, Bắc Ninh) chửi mắng và dùng gậy chọc mắc quần áo đánh gây thương tích. Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã tiến hành điều tra, xác minh vụ việc.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Khoảng 18 giờ ngày 03/7/2022 Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn V đang ngồi bán quần áo tại quầy ở tầng H Trung tâm thương mại S, Ph, G, Hà Nội thì thấy hai khách hàng đi qua, C và V cùng mời khách vào xem hàng nhưng họ không vào. Lúc này, V đi sang quầy quần áo của C chửi mắng và cầm một gậy bằng kim loại dài 1m2, đường kính 1,5cm, một đầu chia chạc hai dùng để móc quần áo vụt liên tiếp hai cái trúng lưng C. C bỏ chạy, Vđuổi theo vụt C thì trúng mặt kính kệ để hàng quần áo của C làm kính vỡ. C tiếp tục chạy thì thì V đuổi theo vụt liên tiếp hai cái trúng lưng và cẳng tay trái của C. C liền cầm một thanh kim loại giống của V vụt một cái trúng tay trái và trượt vào thái dương phải của V sau đó bỏ chạy ra ngoài. Khoảng 10 phút sau C quay lại quầy quần áo của mình thì V lại tiếp tục chạy sang chửi, V có chọc gậy về phía C thì đầu gậy có chọc vào thái dương bên phải gây chảy máu, sau đó V tiếp tục cầm gậy vụt C, C có giơ tay trái lên đỡ thì chiếc gậy trúng vào ngón cái bàn tay trái gây bầm tím chảy máu. Sau đó, mọi người xung quanh vào can ngăn, C và V đến bệnh viện khám và điều trị.

Hậu quả: Anh V bị sưng nề vùng thái dương đỉnh phải KT 5x5cm, sưng phù nề cẳng tay trái. Anh C bị thương tích thái dương phải hình bán nguyệt dài 1,5cm, 03 vết tấy đỏ vùng lưng bả vai phải, 01 vết thương mặt sau gian đốt gần - đốt xa ngón I tay trái.

Đồ vật tạm giữ của Nguyễn Văn C: - 01 gậy bằng kim loại màu trắng có kích thước dài 1,2m x đường kính 1,5cm, một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu có bịt nhựa màu đen.

- 01 USB bằng kim loại màu trắng kích thước 1,5x0,5cm có chứa hình ảnh vụ gây thương tích ngày 03/7/2022.

- 01 sổ khám chữa bệnh của C tại Bệnh viện Đ, 01 Giấy tóm tắt hồ sơ bệnh án, 01 túi phim X-quang bên trong có chứa 03 phim màu đen, kích thước 30cmx20cm, 01 túi đựng phim bên trong chứa 01 phim chụp cắt lớp.

- 01 kệ để hàng quần áo mặt kính bị vỡ phần giữa kích thước 20x30cm, có chiều dài khoảng 1,8mx40cm chân đế, mặt trên 1,8mx20cm.

Đồ vật tạm giữ của Nguyễn Văn V: 01 gậy bằng kim loại màu trắng có kích thước dài 1,2m x đường kính 1,5cm, một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu có bịt nhựa màu đen.

Kết luận giám định pháp y thương tích số 1180/GĐ-TTPY ngày 30/8/2022 của Trung tâm pháp y đối với Anh Nguyễn Văn C kết luận: Sẹo vết thương vùng thái dương phải: 01%. Các chạm thương phần mềm vùng bàn tay trái, lưng không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng, Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với chạm thương này. Cơ chế hình thành thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên.

Kết luận giám định pháp y thương tích số 1264/GĐ-TTPY ngày 16/9/2022 của Trung tâm pháp y đối với anh Nguyễn Văn V kết luận: Các chạm thương phần mềm vùng đầu, cẳng tay trái không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng: Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 sử dụng trong Giám định pháp y, Giám định pháp y tâm thần không quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với các chạm thương này. Cơ chế hình thành thương tích: Các chạm thương do vật tày gây nên.

Kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐ ĐGTS ngày 05/8/2022 kết luận: 01 tấm kinh có kích thước 1m80x20cm, đường kính 0,5cm, mặt kính bị vỡ phần giữa kích thước 20x30cm có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là 180.000đồng.

Đối với hành vi Nguyễn Văn V vụt vỡ tấm kính ở kệ để quần áo của Nguyễn Văn C: Ngày 31/10/2022, Công an huyện G đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 232 đối với Nguyễn Văn V vi phạm điểm a khoản 2 điều 15 nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi Nguyễn Văn C dùng hung khí đánh gây thương tích cho Nguyễn Văn V nhưng không có tỷ lệ % tổn thương cơ thể: Ngày 31/10/2022, Công an huyện G đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 233 đối với Nguyễn Văn C về hành vi Cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 5 điều 7 nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với 01 kệ để hàng quần áo mặt kính bị vỡ phần giữa kích thước 20x30cm, có chiều dài khoảng 1,8mx40cm chân đế, mặt trên 1,8mx20cm Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chủ sở hữu là Anh Nguyễn Văn C.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn C yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường số tiền là 9.475.166 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn V chưa bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn C.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ngày 08/12/2022 bị cáo V đã tự nguyện nộp tạm ứng số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G để khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho Anh C do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Cáo trạng số 206/CT-VKSGL ngày 24/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G– TP Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn Vvề tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo, tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội:" Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i ,s Khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS 2015.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 06 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 20 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho chính quyền UBND xã Tr, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh bị cáo cư trú theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo V bồi thường cho Anh Nguyễn Văn C các khoản tiền gồm: Tiền thuốc và chi phí khám điều trị vết thương là: 4.275.166 đồng, tiền tấm kính bị vỡ 180.000 đồng, tiền bồi thường tổn hại sức khỏe tinh thần tương ứng là 01 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định 1.490.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử cho tịch thu tiêu hủy 02(hai) gậy bằng kim loại màu trắng có kích thước 1,2m x1,5cm một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu bịt nhựa màu đen.

Nói lời sau cùng bị cáo V nhận thấy việc làm của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Xét lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, lời khai của người bị hại, bản kết luận giám định pháp y cùng các chứng cứ, tài liệu được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 ngày 03/7/2022, tại Trung tâm thương mại chợ S, Ph, G, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn V đã có hành vi sử dụng 01 gậy bằng kim loại màu trắng có kích thước dài 1,2m x đường kính 1,5cm, một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu có bịt nhựa màu đen đánh Anh Nguyễn Văn C khiến Anh C bị tổn hại sức khỏe 01%.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm vào tội: Cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 - Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Thông qua vụ án cho thấy: Xuất phát từ việc thiếu sự tôn trọng những quy tắc ứng xử của bị cáo, bị cáo không làm chủ được hành vi của mình là nguyên nhân xảy ra hậu quả của vụ án.

Hành vi của bị cáo đã dùng hung khí là dùng gậy bằng kim loại sáng màu dài1,2m x đường kính 1,5cm, một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu có bịt nhựa màu đen trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của Anh Nguyễn Văn C khiến Anh C bị tổn hại sức khỏe 01%, gây mất trật tự trị an xã hội nên theo yêu cầu của bị hại Cơ quan điều tra đã khởi tố, Viện kiểm sát truy tố để Tòa án xét xử đối với bị cáo về tội Cố ý gây thương tích được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 - Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ.

Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo :

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo V, khi lượng hình HĐXX cũng cân nhắc: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả đã tự nguyện nộp số tiền tạm ứng 10.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G để khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i ,s khoản 1Điều 51 – Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng của pháp luật để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều 36 Bộ luật Hình Sự năm 2015 là có căn cứ và cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo V theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp với hành vi, tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.

.Về dân sự:

Bị cáo V chưa bồi thường thiệt hại cho Anh Nguyễn Văn C là bị hại trong vụ án. Đến nay giữa bị cáo V và Anh C vẫn chưa thỏa thuận, thống nhất giải quyết việc bồi thường dân sự cụ thể: Anh C có đơn yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường dân sự với tổng số tiền: 9.745.166 đồng trong đó gồm: Tiền thuốc và chi phí khám điều trị vết thương là: 4.275.166 đồng, tiền tấm kính bị vỡ 200.000 đồng tiền bồi thường tổn hại sức khỏe tinh thần 5.000.000 đồng. Xét yêu cầu đòi bồi thường của Anh C là bị hại trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo V là người trực tiếp gây ra thương tích cho Anh C với tỷ lệ thương tật là 01%. Do vậy cần buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Anh Nguyễn Văn C là phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Anh C xuất trình Hội đồng xét xử thấy rằng Anh C yêu cầu bị cáo V bồi thường về các khoản gồm: Tiền thuốc và chi phí khám điều trị vết thương là: 4.275.166 đồng, tiền tấm kính bị vỡ 180.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu của Anh C về bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần Hội đồng xét xử thấy rằng thương tích bị cáo V gây ra đối với Anh C rất nhỏ 01% nên chỉ cần buộc bị cáo V phải bồi thường cho Anh C số tiền bù đắp tổn thất tinh thần tương ứng là 01 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định: 1.490.000 đồng là đảm bảo quyền lợi của Anh C theo quy định của pháp luật.

Như vậy tổng cộng buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải có trách nhiệm bồi thường cho Anh Nguyễn Văn C số tiền là: 5.945.166 đồng

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo V đã tự nguyện nộp số tiền tạm ứng 10.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G để khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại. Số tiền này được trừ vào số tiền mà bị cáo V phải bồi thường cho Anh C là: 5.945.166 đồng nên bị cáo Vcòn được nhận lại số tiền là: 4.054.834 đồng.

.Về xử lý vật chứng:

Cho tịch thu tiêu hủy 02(hai) gậy bằng kim loại màu trắng có kích thước 1,2m x1,5cm một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu bịt nhựa màu đen.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.

.Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng là phù hợp với nhận định của HĐXX.

. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn Vphải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội : "Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i ,s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Nguyễn Văn V 09(chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Cố ý gây thương tích”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho chính quyền Uỷ ban nhân dân xã Tr, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh bị cáo cư trú theo dõi giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về dân sự: Áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường cho Anh Nguyễn Văn C các khoản sau:

Tiền thuốc và chi phí khám điều trị vết thương là: 4.275.166 đồng, tiền tấm kính bị vỡ 180.000 đồng

Bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần bị hại gồm: Với số tiền tương ứng là 01 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định:1.490.000 đồng.

Tổng cộng buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải có trách nhiệm bồi thường cho Anh Nguyễn Văn C số tiền là: 5.945.166 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo V đã tự nguyện nộp số tiền tạm ứng 10.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G theo biên lai thu tiền số 55249 ngày 08/12/2022 để khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại. Số tiền này được trừ vào số tiền mà bị cáo V phải bồi thường cho Anh C là: 5.945.166 đồng. Bị cáo Vcòn được nhận lại số tiền là: 4.054.834 đồng.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Cho tịch thu tiêu hủy 02(hai) gậy bằng kim loại màu trắng có kích thước 1,2m x1,5cm một đầu có chạc hai dùng để móc quần áo, một đầu bịt nhựa màu đen.

(Hiện vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G theo biên lai thu tiền số 55249 ngày 08/12/2022 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/11 /2022)

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí.

Bị cáo V phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ