- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt : Nguyễn Hữu T 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự năm; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 220/2018/HSST Ngày 17/08/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Anh Thư
2. Bà Nguyễn Thị Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 08 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 233/2018/HSST ngày 27/7/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241 2018/QĐXX -ST ngày 06/8/2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN HỮU T (tên gọi khác: không) - Sinh năm 1991; tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn Hữu T; Họ tên mẹ: Hoàng Thị P; Họ tên vợ: Trần Thị X; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án; tiền sự: 01 tiền sự ngày 12/2/2018 Công an Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 28/04/2018. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: 1. Chị Phạm Thị Thanh D, sinh năm 1993
Trú tại: Xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội
Vắng mặt tại phiên tòa
2. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1989
HKTT: Xóm L, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định Hiện ở: Số 36 ngách 78 ngõ 29 phường K, Quận T, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/4/2018, Công an trạm bến xe phía Nam tiếp nhận đơn trình báo của một số người về việc bị móc trộm tài sản tại bến xe. Qua rà soát, Công an trạm bến xe đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Hữu T và yêu cầu T về trụ sở làm việc.
Tại cơ quan công an T tự giao nộp 01 chiếc điện thoại di động OPPO Fs1 màu trắng hồng và số tiền 1.980.000 đồng trong túi quần trước bên trái; 01 ví da màu nâu bên trong ví có 3.875.000 đồng trong túi quần sau bên phải; 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 túi xách vải xanh có dây đeo, bên trong có 01 áo khoác màu ghi.
Nguyễn Hữu T khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/4/2018 T đến bến xe phía Nam với mục đích lợi dụng sơ hở của hành khách đi xe khách tại bến xe để trộm cắp tài sản. Trước khi bị kiểm tra hành chính, T đã gây ra 03 vụ trộm cắp tài sản trong ngày 28/4/2018. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/4/2018 tại địa điểm chờ xe A103, tuyến xe đi thành phố Thái Bình thuộc bến xe phía Nam, T thấy chị Phạm Thị Thanh D (sinh năm 1993; trú tại: Xã Y, huyện T, thành phố Hà Nội) lưng đeo balo màu đen. T vờ chen lấn rồi dùng tay kéo khóa balo, thò tay vào balo lấy 01 chiến điện thoại di động OPPO F1s màu trắng hồng, đã qua sử dụng, sau đó T tháo sim vứt ở sân bến xe.
Vụ thứ hai: Tại hành lang nhà chờ phía sau, đầu tuyến xe đi tỉnh Nam Định, T thấy chị Nguyễn Thị Q (sinh năm 1989; trú tại: Số 36 ngách 78 ngõ 29 phường K, Quận T, thành phố Hà Nội) đang đeo balo, T dùng tay kéo khóa balo ra và lấy được 1 ví da màu đen, rồi ra cổng xe khách lấy 3.100.000 đồng trong ví của chị Q ra, bỏ vào ví của T, rồi cất vào túi quần sau bên phải, còn ví và giấy tờ của chị Q, T vứt lại khu vực sân trả khách. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, T đang đi bộ tại khu vực sân sau bến xe phía Nam thì bị cơ quan Công an kiểm tra hành chính và thu giữ tang vật như nêu trên.
Lời khai của T phù hợp với lời khai của người bị hại là chị D, chị Q, phù hợp với lời khai của người làm chứng là anh Đinh Văn H (sinh năm 1990; trú tại: xã C, huyện N, tỉnh Ninh Bình).
Ngoài 02 vụ trộm cắp nêu trên, cùng ngày tại đầu tuyến xe khách đi thành phố Thái Bình thuộc bến xe phía Nam, T đã móc trộm trong balo của 01 người phụ nữ (hiện chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ) 01 ví màu hồng. Sau khi lấy được ví, T ra khu vực xe đi tỉnh Thanh Hóa móc ví, lấy tiền bên trong có 1.980.000 đồng và cất tiền vào trong túi quần phía trước bên phải, bên trong ví còn có Chứng minh thư nhân dân, thẻ sinh viên, T vứt cả ví và giấy tờ trên sân bến xe. Cơ quan điều tra đã thông báo, rà soát tìm bị hại nhưng hiện chưa xác định được bị hại nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách tài liệu liên quan đến vụ việc trên để điều tra xử lý sau.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành dẫn giải T đi xác định địa điểm T vứt sim điện thoại, ví cùng toàn bộ giấy tờ của các bị hại nhưng không thu hồi được.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 106/HDĐG ngày 15/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản Quận Hoàng Mai định giá 01 chiếc điện thoại di động OPPO F1s màu trắng hồng có giá trị là: 2.567.000 đồng
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho chị D chiếc điện thoại di động OPPO F1s, chị D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự; đã trao trả cho chị Q số tiền 3.100.000 đồng, chị Q đã nhận lại và không yêu cầu bồi thương dân sự. Đối với chiếc ví da bị mất không thu hồi được, chị Q khai trị giá 100.000 đồng, chị Q không yêu cầu bồi thường đối với tài sản là chiếc ví da và các giấy tờ khác đã mất không thu hồi được.
Số tiền 1.980.000 đồng là tiền T trộm cắp của người bị hại chưa xác định được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách tài liệu để xử lý sau.
Còn lại số tiền 775.000 đồng qua xác minh là tiền do T lao động mà có. Số tiền trên hiện đang lưu giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đối với 01 chiếc túi xách màu xanh có quai đeo, 01 chiếc áo khoác màu ghi, 01 chiếc ví da màu nâu đã qua sử dụng, 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen qua xác minh không sử dụng vào việc trộm cắp tài sản nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Hữu T.
Tại bản cáo trạng số 237/CT-VKS ngày 24/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo từ 06 – 08 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự do người bị hại không yêu cầu nên không xét.
Trả lại cho bị cáo số tiền 775.000 đồng do không liên quan đến vụ án nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận ngày 28/4/2018 bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động OPPO F1s màu trắng hồng của chị Phạm Thị Thanh D; trộm cắp số tiền 3.100.000 đồng và 01 ví da trị giá 100.000 đồng của chị Nguyễn Thị Q thì bị bắt giữ. Bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện. Tại phiên tòa, bị cáo xuất trình thêm Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn của bị cáo và Giấy xác nhận Huy chương kháng chiến của ông bà nội bị cáo do UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xác nhận.
Người bị hại là chị Phạm Thị Thanh D, Nguyễn Thị Q vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 28/4/2018 tại khu vực bến xe phía Nam, phường Giáp Bát, Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hữu T đã gây ra liên tiếp 02 vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt của chị Phạm Thị Thanh D 01 chiếc điện thoại di động OPPO F1s màu trắng hồng, có giá trị 2.567.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Q số tiền 3.100.000 đồng và 01 ví da trị giá 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.767.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân tại địa phương, làm mất trật tự trị an xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thực hiện liên tiếp 02 vụ trộm cắp tài sản, mỗi hành vi đều đã đủ cấu thành tội phạm. Vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con nhỏ, có xác nhận của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo có ông bà nội là cụ là Nguyễn Hữu T và cụ Nguyễn Thị H được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì theo Quyết định số 12 ngày 30/1/1962 của Chủ tịch nước. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hiệu. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng một hình phạt tù giam tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo bị tạm giữ 10 ngày kể từ ngày 28/4/2018 đến ngày 07/5/2018, thời gian tạm giữ của bị cáo được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Do bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập kinh tế ổn định nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại là chị Phạm Thị Thanh D, Nguyễn Thị Q đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên Tòa không xét.
Về biện pháp tư pháp: Xét số tiền 775.000 đồng thu giữ của bị cáo do không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt : Nguyễn Hữu T 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đƣợc trừ thời gian tạm giữ là 10 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 20 (hai mƣơi) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng : Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 775.000 (bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 01 ngày 02/5/2018 vào tài khoản số 3949 tại Kho bạc Nhà nước của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phía Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Phạm Thị Thanh D, chị Nguyễn Thị Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hoàng Mai, Hà Nội; - Công an Q. Hoàng Mai, Hà Nội; - Thi hành án Q. Hoàng Mai, Hà Nội; - Sở tư pháp TP Hà Nội; - Bị cáo - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Tú |