- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình H - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Ch p nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người ị hại; sửa ản án sơ thẩm về phần h nh phạt đối với ị cáo Lê Đ nh H.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật H nh sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 249 Bộ luật tố tụng H nh sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NH N N
N H
H
H N H V T N M
T Đ N N
Đ c p - T do - H nh ph c Bản án số: 220/2017/HSPT
Ngày: 25-8-2017
NHÂN DANH
NƯỚ
N H
H
H N H V T N M
T
N NH N N
T Đ N N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông h m Vi t
ng
Các thẩm phán:
Ông Trần Minh Tuấn.
Ông Mai Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức - Thư ký T a án nh n d n c p cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Lê Ra - Kiểm sát viên.
Ngày 25-8-2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, Tòa án nhân dân c p cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án h nh sự thụ lý số 212/2017/TLPT-HS ngày 22-6-2017 đối với ị cáo Lê Đình H bị kết án về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án h nh sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 11-5-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Lê Đình H, sinh ngàv 02-6-1968, tại Thanh Hóa; địa chỉ cư trú: thôn T, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum; tr nh độ văn hoá: 5/10; nghề nghiệp: làm nông; con ông Lê Đình D và à Lê Thị C; vợ là Trịnh Thị H1, sinh năm 1971 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị ắt tạm giam ngày 14-11-2016, có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đình H:
Luật sư Hoàng Minh T - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1972 (là vợ người ị hại, anh Trần Văn S), địa chỉ cư trú: thôn T, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum, có mặt.
- Người bảo về quyền lợi cho chị Nguyễn Thị B:
Luật sư Phạm Ngọc Q - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Trịnh Thị H1, sinh năm 1971 (vợ của ị cáo Lê Đ nh H); địa chỉ cư trú: thôn T, xã I, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, có mặt.
N
UN VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 15-10-2016, Lê Đ nh T, Lê Đ nh H2, Lê Văn H3 và Lê Văn N cùng uống rượu tại nhà Lê Đ nh H. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Lê Văn N rủ cả nhóm đến quán nhà ông Châu Văn Tr để hát Karaoke. Khi đến nơi, ông Châu Văn Tr nói máy ị hỏng, nên cả nhóm lại rủ nhau đến quán Karaoke nhà anh Trần Văn S để hát.
Khi đến trước cổng nhà anh Trần Văn S, Lê Đ nh H nói “anh S, nhà có Karaoke không, cho em hát m y ài”. Lúc này, anh Trần Văn S ở ên nhà đối diện đi về nhà m nh, vừa đi vừa nói “ ọn mày vô nhà tao làm g , nhà tao có người đ u”, Lê Đ nh H nói “chúng tôi đến hát Karaoke”. Anh Trần Văn S đuổi nhóm Lê Đ nh H đi, không cho hát và vào nhà l y một c y lau nhà ằng nhựa, th chị Nguyễn Thị B (là vợ anh Trần Văn S) ở trong nhà chạy ra giật c y lau nhà ném xuống s n, anh Trần Văn S tiếp tục vào nhà l y một c y kéo ở trên àn rồi cầm kéo xông vào đánh Lê Đ nh H. Th y vậy, anh Lê Đ nh H2 can ngăn th ị anh Trần Văn S dùng kéo đ m một nhát vào cổ tay phải, anh Lê Đ nh H2 ôm tay ỏ chạy ra ngoài cổng. Lê Đ nh H nói “tại sao thằng H a vào can ngăn mà lại đ m nó”, anh Trần Văn S không nói gì mà cầm kéo đ m trúng vào hốc mắt trái (phía đầu lông mày) của Lê Đ nh H. Lê Đ nh H giật được kéo đang dính trên hốc mắt và cầm kéo ằng tay phải đ m một nhát trúng vào hốc mắt trái (phía đuôi lông mày) của anh Trần Văn S rồi rút kéo ra. Chị Nguyễn Thị B xông vào giật kéo từ tay Lê Đ nh H vứt vào trong nhà, cùng lúc anh Trần Văn S gục ngã xuống trước cổng nhà. Lê Đ nh H tiếp tục dùng ch n đá hai cái vào người anh Trần Văn S (một cái trúng vào đầu, một cái trúng vào mặt). Ngay sau đó, anh Trần Văn S, anh Lê Đ nh H2 và Lê Đ nh H được mọi người đưa đi c p cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum. Đến ngày 16-10-2016, anh Trần Văn S ị chết.
Sau khi Lê Đ nh H phạm tội, chị Trịnh Thị H1 (là vợ Lê Đ nh H) đã tự nguyện ồi thường cho người đại diện hợp pháp của người ị hại (chị Nguyễn Thị B) 70.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 77/TT-TTPY ngày 17-10-2016, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Kon Tum kết luận: anh Trần Văn S chết do ch n thương sọ não hở.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 126/TgT-TTPY ngày 07-11-2016, Trung t m Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Kon Tum kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Đ nh H là 28%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 129/TgT-TTPY ngày 19-11-2016, Trung t m Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Kon Tum kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Đ nh H2 là 08%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 11-5-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum:
Áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm , đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật H nh sự, xử phạt: Lê Đ nh H 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”; thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giam 14-11-2016.
Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật D n sự; uộc Lê Đ nh H ồi thường thêm 52.750.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của người ị hại.
- Ngày 24-5-2017, Lê Đ nh H kháng cáo xin giảm h nh phạt.
Ngày 14-6-2017, Lê Đ nh H rút kháng cáo; ngày 23-6-2017, Tòa án nhân dân c p cao tại Đà Nẵng thông áo về việc rút kháng cáo của Lê Đ nh H.
- Ngày 15-5-2017, chị Nguyễn Thị B là người đại diện hợp pháp của người ị hại kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm, với lý do: T a án c p sơ thẩm áp dụng h nh phạt đối với ị cáo quá nhẹ, chưa tương xứng với hành vi và hậu quả do ị cáo g y ra; đồng thời, chị đề nghị tăng mức ồi thường thiệt hại.
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nh n d n c p cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng H nh sự: không ch p nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người ị hại; giữ nguyên h nh phạt của ản án sơ thẩm đối với ị cáo Lê Đ nh H.
Luật sư ào chữa cho ị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên h nh phạt đối với ị cáo Lê Đ nh H; người ảo vệ quyền lợi của chị Nguyễn Thị B đề nghị tăng h nh phạt đối với ị cáo và tăng phần ồi thường d n sự.
NHẬN ĐỊNH
T
N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Do có m u thuẫn từ việc hát Karoke, anh Lê Đ nh H2 ị anh Trần Văn S dùng kéo đ m vào cổ tay phải. Th y vậy, Lê Đ nh H đến can ngăn và cũng ị anh Trần Văn S dùng kéo đ m một nhát trúng vào hốc mắt trái, do đó Lê Đ nh H đã dùng chính c y kéo vừa ị đ m, đ m một nhát vào hốc mắt trái của anh Trần Văn S. Khi th y anh Trần Văn S ị ngã, Lê Đ nh H tiếp tục dùng ch n đá hai cái trúng vào mặt, vào đầu làm cho anh Trần Văn S ị chết do “ch n thương sọ não hở”. Với hành vi phạm tội như đã nêu, T a án nh n d n tỉnh Kon Tum kết án Lê Đ nh H về tội “Giết người” là có căn cứ.
. Xét kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm của người đại diện hợp pháp của người ị hại, Hội đồng xét xử phúc thẩm th y rằng:
- Về tội danh:
Ngày 15-10-2016, khi nhóm của Lê Đ nh H đến hát Karaoke tại nhà anh Trần Văn S thì phát sinh m u thuẫn. Anh Trần Văn S dùng kéo đ m một nhát vào cổ tay phải của anh Lê Đ nh H2. Lê Đ nh H can ngăn th ị anh Trần Văn S cầm kéo đ m trúng vào hốc mắt trái. Sau khi rút cây kéo từ mắt m nh, Lê Đ nh H cầm kéo đ m một nhát vào hốc mắt trái của anh Trần Văn S và khi th y anh Trần Văn S gục ngã xuống trước cổng nhà, Lê Đ nh H tiếp tục dùng ch n đá vào người, vào đầu làm cho anh Trần Văn S ị chết sau khi được đưa đi c p cứu.
Xét nguyên nh n phạm tội của ị cáo Lê Đ nh H th y rằng: ị cáo phạm tội xu t phát từ hành vi trái pháp luật của người ị hại, ởi lẽ do không muốn cho nhóm của Lê Đ nh H hát Karaoke tại nhà m nh, anh Trần Văn S đã chửi tục rồi sử dụng kéo t n công vào cổ tay của anh Lê Đ nh H2 trước (thương tật 08%) và khi Lê Đ nh H can ngăn cũng ị anh Trần Văn S dùng kéo đ m vào hốc mắt trái (thương tật 28%), từ đó Lê Đ nh H ức xúc, không tự k m chế được ản th n, nên đã sử dụng chính cây kéo vừa ị đ m t n công lại anh Trần Văn S, sau đó dùng chân đá liên tiếp hai cái (một vào đầu, một vào mặt) làm cho anh Trần Văn S ị chết. Tuy hành vi của ị cáo Lê Đ nh H không “có tính ch t côn đồ”, nhưng thuộc trường hợp r t nghiêm trọng, hậu quả chết người đã xảy ra; do đó, T a án nh n d n tỉnh Kon Tum kết án Lê Đ nh H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 của Bộ luật H nh sự là đúng pháp luật.
- Về h nh phạt:
Mặc dù, người ị hại (anh Trần Văn S) có một phần lỗi là t n công ị cáo trước, nhưng hành vi của người ị hại chưa g y nguy hiểm đến tính mạng của ị cáo; tuy nhiên, do không k m chế được ản th n, Lê Đ nh H đã dùng kéo đ m lại vào hốc mắt trái của người ị hại và sau khi người ị hại ị ngã, không c n khả năng chống đỡ, Lê Đ nh H tiếp tục dùng chân đạp vào đầu, vào người, làm cho người ị hại ị chết “do ch n thương sọ não hở”. Hành vi phạm tội của ị cáo là nguy hiểm, trực tiếp tước đoạt tính mạng của người khác, g y m t trật tự trị an địa phương, do đó cần phải áp dụng đối với ị cáo một h nh phạt nghiêm khắc, nhưng khi áp dụng h nh phạt, Tòa án nh n d n tỉnh Kon Tum quá trú trọng vào các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, xử phạt ị cáo 05 năm tù (dưới mức th p nh t của khung h nh phạt) là nhẹ, không tương xứng với tính ch t và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của ị cáo, không đáp ứng được công tác đ u tranh ph ng và chống đối với loại tội x m phạm tính mạng, sức khỏe nói riêng tại địa phương. V vậy, kháng cáo tăng h nh phạt của người đại diện hợp pháp của người ị hại đối với Lê Đ nh H là có cơ sở.
- Về trách nhiệm d n sự:
Sau khi phạm tội, gia đ nh Lê Đ nh H đã ồi thường cho người đại diện hợp pháp của người ị hại 70.000.000 đồng; tại phiên t a sơ thẩm, chị Nguyễn Thị B yêu cầu ị cáo Lê Đ nh H phải ồi thường thêm 211.150.000 đồng.
Căn cứ Điều 591 của Bộ luật D n sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum ch p nhận các yêu cầu ồi thường của người đại diện hợp pháp của người ị hại gồm:
+ Thiệt hại do tính mạng ị x m phạm: tiền c p cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum 1.000.000 đồng; tiền thuê xe ô tô đưa từ ệnh viện về xã I 2.500.000 đồng; tiền quan tài, vải, trà kh m liệm 28.500.000 đồng; tiền mua hoa, quả, đèn, nến, nhang 1.650.000 đồng; tiền kèn, trống, đào huyệt 16.500.000 đồng.
+ Khoản tiền ù đắp tổn th t về tinh thần: xác định người ị hại có một phần lỗi, nên T a án nh n d n tỉnh Kon Tum uộc Lê Đ nh H phải ồi thường tương ứng với 60 tháng lương tối thiểu (60 x 1.210.000 đồng = 72.600.000 đồng).
Như vậy, T a án nh n d n tỉnh Kon Tum uộc Lê Đ nh H phải ồi thường cho người đại diện hợp pháp của người ị hại với tổng số tiền 122.750.000 đồng là đúng pháp luật; do đó, kháng cáo tăng mức ồi thường thiệt hại của người đại diện hợp pháp của người ị hại là không có căn cứ.
- Về việc ỏ lọt tội phạm: chị Nguyễn Thị B cho rằng, ngày 15-10-2016, các anh Lê Đ nh T, Lê Đ nh H2, Lê Đ nh H3, Lê Văn N có tham gia đánh anh Trần Văn S trước khi ị Lê Đ nh H đ m, đạp dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, quá tr nh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kon Tum đã nhiều lần l y lời khai của các đối tượng nêu trên; đồng thời, cho các đối tượng này và chị Nguyễn Thị B đối ch t, nhưng không có căn cứ để xác định vụ án có đồng phạm. V vậy, kháng cáo cho rằng T a án ỏ lọt tội phạm là không có cơ sở.
Như vậy, toàn ộ nội dung kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người ị hại (chị Nguyễn Thị B) và đề nghị của người ảo vệ quyền lợi của đương sự đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, nhưng chỉ có căn cứ để ch p nhận một phần.
. Về áp dụng pháp luật: do kháng cáo của của người đại diện hợp pháp của người ị hại được ch p nhận về phần h nh phạt, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ không áp dụng Điều 47 của Bộ luật H nh sự đối với ị cáo Lê Đ nh H.
. Về án phí: do người đại diện hợp pháp của người ị hại (chị Nguyễn Thị B) kháng cáo và được ch p nhận một phần, nên chị Nguyễn Thị B không phải nộp án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 249 của Bộ luật tố tụng H nh sự;
1. Ch p nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người ị hại; sửa ản án sơ thẩm về phần h nh phạt đối với ị cáo Lê Đ nh H.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm , đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật H nh sự, xử phạt: Lê Đình H 07 ( ảy) năm tù về tội “Giết người”; thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giam 14-11-2016.
3. Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật D n sự;
Buộc Lê Đ nh H ồi thường thêm cho người đại diện hợp pháp của người hại (chị Nguyễn Thị B) 52.750.000 đồng.
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự, th người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án D n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án D n sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nh n:
| - TANDTC - Vụ I; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Công an tỉnh Kon Tum; - Trại Tạm giam thuộc Công an tỉnh Kon Tum (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - Cục THA dân sự tỉnh Kon Tum; - Chị Nguyễn Thị B (theo địa chỉ); - Lưu: H/sơ vụ án, các Phòng HCTP, LTHS. | TM. H ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ph m Vi t ng |