vanban.org

Bản án 22

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 18/04/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b bị cáo tuyên b bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-12-2017. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh T về bồi thường thiệt hại.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Minh T "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo tuyên b bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 22/2018/HS-PT
Ngày: 18-4-2018

NHÂN DANH

TÒA ÁN NHÂN DÂN T

NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễ Kim ồng

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị i

ươ g

Ông Nguyễ ă P

- Thư ký phiên tòa: Bà à

ị ươ g - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị à - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 20/2018/TLPT-HS ngày 02/02/2018 đ i với bị cáo Lê Minh T; do kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 22/2017/HS-ST ngày 27-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Minh T, sinh năm 1969 tại tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: tổ dân ph 3, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng T (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1923; có vợ Võ Thị Ngọc H, sinh 1971 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01-12-2017. Hiện đang bị giam giữ Nhà tạm giữ Công an huyện Đạ Huoai; Có mặt.

Người bào chữa: Luật sư Đỗ Trọng Hiển, Văn phòng Luật sư Tín Nghĩa - Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án này, bị hại ông Th, bà S không kháng cáo; không bị kháng nghị; bị cáo kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 18-12-2016 bà C thuê bị hại ông Th, bà S đến dọn dẹp và phun thu c xịt cỏ ở hai bên hành lang đường Nguyễn Thái Học (phía trước cửa nhà bà C, tổ dân phố 3 thị trấn Mađaguôi). Kho ng 8 giờ 30 phút cùng ngày, bị hại ông Th tiến hành xịt thu c cỏ, còn bị hại bà S (chị gái bị hại Th) đi theo để tiếp nước xịt thu c cỏ. Biết bị hại ông Th, bà S đang xịt thu c cỏ, bị cáo T (em ruột bị hại Th, bị hại S) cầm một con dao (bằng kim loại dài 29cm, phần cán dao dài 8cm, phần lưỡi dao dài 21cm, bản dao rộng 8cm, đầu dao bằng) đi từ nhà mình đến vị trí bị hại ông Th đang phun xịt thu c để ngăn c n và cho rằng bị hại ông Th đã xịt thu c vào vườn của bị cáo. Hai bên x y ra cự cãi, bị cáo dùng con dao chém một nhát vào vùng cánh mũi trái của bị hại ông Th, thì bị hại chạy vào trong sân nhà bà C (chị gái bị hại ông Th) kêu và nói cho bà C biết. Thấy vậy, bà C từ trong nhà chạy ra sân nhìn ra đường thấy bị cáo T cầm con dao đi về phía bị hại bà S đang đứng, lúc này bị hại bà S cầm vòi xịt thu c quật một cái vào con dao bị cáo đang cầm trên tay làm rớt con dao xu ng đường, bị cáo liền nhặt dao lên rồi chém một nhát vào vùng đỉnh đầu bị hại bà S, bị cáo tuyên b hăm dọa bà C “Mày ra đây tao chém luôn một thể”, hăm dọa bị hại ông Th, bà S “Mày còn xịt thuốc vào đất nhà tao thì tao chém chết”, sau đó bị cáo cầm dao đi về nhà, còn bị hại ông Th, bà S được đưa đến Bệnh viện Đạ Huoai chữa trị. Vụ việc được Công an thị trấn Mađaguôi có mặt tại hiện trường lập biên b n vụ việc, tiến hành thu giữ vật chứng.

Sau khi giám định thương tích, các bị hại ông Th, bà Lê Thị S yêu cầu yêu cầu khởi t đ i với bị cáo đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại b n Kết luận s 30/2017/TgT ngày 08-3-2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận tỷ lệ thương tích của bị hại ông Th là 2%; Kết luận s 33/2017/TgT ngày 06-3-2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận tỷ lệ thương tích của bị hại bà S là 2%. Do bị hại ông Th không đồng ý với kết luật giám định; Cơ quan điều tra trưng cầu Viện pháp y qu c gia tại Thành ph Hồ Chí Minh tiến hành giám định lại thương tích. Tại kết luận giám định s 68/17/TgT ngày 10-7-2017 kết luận thương tích bị hại ông Th 02%.

Về bồi thường thiệt hại: bị hại ông Th yêu cầu bị cáo T bồi thường tổng cộng s tiền là 93.990.000đ; bị hại bà S yêu cầu bị cáo T bồi thường s tiền tổng cộng là 13.400.000đ. Về phía bị cáo T không chấp nhận.

B n án hình sự s 22/2017/HS-ST ngày 27-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai tuyên b bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a kho n 1 Điều 104; điểm h kho n 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 1999); xử phạt bị cáo Lê Minh T 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 01-12-2017.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Minh T ph i bồi thường cho bị hại ông Th s tiền 27.954.007đ (làm tròn số 27.954.000đ); bồi thường cho bị bà S s tiền 13.000.000đ.

Ngoài ra, b n án còn gi i quyết về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật;

Ngày 08-01-2018 bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt, gi m bồi thường; đến ngày 02-3-2018, bị cáo rút kháng cáo về bồi thường thiệt hại;

Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như b n án sơ thẩm, không thắc mắc khiếu nại, đồng thời xuất biên lai nộp tiền bồi thường s tiền 10.400.000đ/tổng s 40.000.000đ ph i bồi thường; đề nghị Tòa án xem gi m nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo th ng nhất tội danh cấp sơ thẩm quy kết; đồng thời đánh giá nguyên nhân dẫn đến hành vi gây thương tích từ mâu thuẩn gia đình, đề nghị Tòa án xét áp dụng các tình tiết gi m nhẹ cho bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo; căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355, điểm c kho n 1 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; sửa b n án sơ thẩm gi m cho bị cáo 03 tháng tù.

NHẬ ỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về t tụng: Ngày 02-3-2018, bị cáo rút một phần kháng cáo về bồi thường thiệt hại; căn cứ kho n 3 Điều 342 của Bộ luật T tụng hình sự năm 2015 để đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với phần kháng cáo này.

[2] Do mâu thuẫn giữa bị cáo với anh chị trong gia đình, nên vào kho ng 8 giờ 30 phút ngày 18-12-2016 khi thấy bị hại ông Th phun thu c xịt cỏ ở hành lang đường Nguyễn Thái Học (tổ dân phố 3 thị trấn Mađaguôi, phía trước cửa nhà bà C), còn bị hại bà S giúp tiếp nước xịt thu c cỏ; Bị cáo T cho rằng bị hại ông Th xịt thu c cỏ vào vườn của bị cáo, sau đó x y ra cự cãi, bị cáo dùng con dao chém vào vùng cánh mũi trái của bị hại ông Th gây thương tích; sau đó bị cáo đi về phía bị hại bà S, bị bà S cầm vòi xịt thu c quật một cái vào con dao bị cáo đang cầm trên tay, làm rớt con dao xu ng đường, bị cáo nhặt dao lên rồi chém một nhát vào vùng đỉnh đầu bị hại bà S gây thương tích, sau đó bị cáo hăm dọa bị hại ông Th, bà S, bà C mới đi về.

Hậu qu của hành vi bị cáo gây thương tích cho bị hại ông Th 02%; bị hại bà S 02%. Đ i chiếu lời khai bị cáo, biên b n sự việc của Công an thị trấn Mađaguôi; kết luận giám định về thương tích; vật chứng thu giữ; cấp sơ thẩm tuyên b bị cáo T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo kho n 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật b o vệ, gây nh hưởng đến trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Mặt khác, bị cáo gây thương tích cho chính anh ruột, chị ruột của mình chỉ vì mâu thuẫn. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định điểm h kho n 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015) để quyết định hình phạt là thỏa đáng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng cho bị cáo tình tiết gi m nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định điểm p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015). Ngoài ra, bị cáo tác động vợ bị cáo đã bồi thường trước khi xét xử 10.400.000đ/40.000.000đ, tương ứng ¼ s tiền ph i bồi thường, nên chỉ được áp dụng tình tiết gi m nhẹ quy định kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Luật sư bào chữa cho rằng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết gi m nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, đề nghị chấp nhận kháng cáo cho bị cáo là có căn cứ. Do vậy, chấp nhận một phần kháng cáo, để quyết định mức hình phạt khởi điểm khung hình phạt tù là phù hợp.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ỊNH:

Căn cứ vào điểm b kho n 1 Điều 355, điểm c kho n 1 Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa b n án sơ thẩm, Xử:

1. Tuyên b bị cáo tuyên b bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-12-2017.

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh T về bồi thường thiệt hại.

3. Về án phí: Căn cứ kho n 2 Điều 135, kho n 2 Điều 136 của Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ