vanban.org

Bản án 22/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lò Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lò Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lò Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hàn…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/QĐ-TASơn La, ngày 04 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị M.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La.

Ngày 04 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 22/QĐ – TA ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 2002

Số định danh cá nhân: 014202002748

Nơi cư trú: Bản B, xã C, tỉnh Sơn La.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12;

Con ông Lò Văn H và bà Cà Thị H1

Tiền án: Không, tiền sự: Không.

Có mặt tại phiên họp.

* Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Trưởng Công an xã C, tỉnh Sơn La: Ông Lò Văn Đ, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Đinh Thanh T1 – Phó Trưởng Công an xã C, có mặt.

- Ông Vừ Văn C – Cán bộ Công an xã C, có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La: Bà Lò Thị Thanh-Kiểm sát viên, có mặt tại phiên họp.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy: Lò Văn T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2021, đã nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Chủ tịch UBND xã C, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 1273/QĐ-UBND ngày 06/9/2024; không thuộc các trường hợp chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự

Ngày 27/8/2025 Lò Văn T vẫn sử dụng ma túy là H2 phiến bằng hình thức đốt hít và bị phát hiện.

Ngày 28/8/2025 Công an xã C, tỉnh Sơn La phối hợp với Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy với Lò Văn T, kết quả xác định Lò Văn T nghiện ma túy.

Ngày 30/8/2025 Công an xã C đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Ngày 05/9/2025 Chủ tịch UBND xã C ra Quyết định số 286/QĐ-UBND dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lò Văn T và đang trong thời gian đăng ký cai nghiện tự nguyện thì Lò Văn T đã bỏ trốn.

Ngày 27/3/2026 Lò Văn T đã trở về địa phương, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã C, tỉnh Sơn La phối hợp với Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La tiến hành xét nghiệm ma túy với Lò Văn T, kết quả nghiện ma túy, tiếp tục lập biên bản vi phạm.

Tại phiên họp Lò Văn T thừa nhận do sợ phải đi cai nghiện bắt buộc nên đã bỏ trốn khỏi địa phương, thừa nhận kể từ khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, từ ngày 27/8/2025 đến nay vẫn thường xuyên sử dụng ma túy và vẫn nghiện ma túy. Nay Lò Văn T đã ân hận, suy nghĩ lại hành vi của mình nên đã có đơn đề nghị được áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc; không thực hiện trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và xác định sẽ không đăng ký cai nghiện tự nguyện vì: bản thân đã nghiện ma túy lâu năm, gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có kinh phí cai nghiện tự nguyện, cũng hoàn toàn xác định không thể tự cai nghiện được. Do vậy Trưởng công an xã C lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc là đúng quy định.

Xét hành vi của Lò Văn T đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 27; khoản 1, Điều 32 Luật phòng chống ma túy đủ điều kiện đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành, Trưởng Công an xã C có công văn đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Sơn La đối với Lò Văn T. Tại phiên họp cơ quan đề nghị Công an xã C vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung công văn đề nghị.

Tại phiên họp người bị đề nghị thừa nhận bản thân có sử dụng và nghiện chất ma túy và nhất trí áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thẩm phán, Thư ký và Cơ quan đề nghị giải quyết theo đúng trình tự tố tụng được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Luật phòng chống ma túy; Nghị định số 109/2021/NĐ – CP ngày 08/12/2021 và Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021, Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ;

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ do Công an xã C lập, trên cơ sở xem xét toàn diện hồ sơ, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Người bị đề nghị Lò Văn T đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi, không thuộc các trường hợp chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định, có hiểu biết pháp luật, sau khi bị xác định là người nghiện ma túy đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và có đơn xin đi cai nghiện bắt buộc. Hành vi của Lò Văn T đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27, Điều 32 của Luật phòng chống ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, việc đưa đối tượng vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên họp người bị đề nghị thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma tuý và nhất trí áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Do vậy, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính là “Người bị đề nghị tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”.

Tuy nhiên, do Lò Văn T nghiện chất ma tuý do vậy cần có thời gian cai nghiện phù hợp để cai nghiện được chất ma tuý.

Xét thời hiệu áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T còn thời hiệu theo quy định; Trình tự lập hồ sơ do cơ quan đề nghị lập đã đúng theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính đã sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật 88/2025/QH15; Luật phòng chống ma túy; Nghị định số 109/2021/NĐ – CP ngày 08/12/2021, Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021, Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao

Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 9, các Điều 95, 96, 103 và Điều 104, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính đã sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật 88/2025/QH15.

Căn cứ vào các Điều 21, 23, 24, 25, 30, 31, 32 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Điều 5 Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 27; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 41; Điều 54 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Điều 20 Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao

Chấp nhận đề nghị của Trưởng công an xã C, tỉnh Sơn La đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lò Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La có quyền kháng nghị quyết định của Toà án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La, Công an xã C, tỉnh Sơn La có trách nhiệm tổ chức thi hành đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La.

Trường hợp người nghiện ma túy không chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Trưởng Công an xã C, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật để đưa người phải chấp hành đến cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ