vanban.org

Bản án 22/BA — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Ngọc D1.

Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Hoàng Thiên B, sinh ngày 01/9/2009 và Nguyễn Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 17/7/2012 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con chung. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị D-Nguyễn Ngọc D1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Ngọc D1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Số: 22/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-4-2022
V/v: Ly hôn giữa chị D và anh D1

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Xuân Tỵ.

2. Ông Cầm Văn Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 407/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số nhà 56 Lê Phụng Hiểu, xã Lộc Châu, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ hiện nay: Số 152/3 Lê Phụng Hiểu, xã Lộc Châu, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số nhà 163/4 Đinh Tiên Hoàng, phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

(Tại phiên tòa chị D có mặt, anh D1 vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2021, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc D1 có đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2008 tại UBND xã Lộc Châu, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trong cách làm ăn kinh tế. Vợ chồng thường xuyên xích mích, cãi vã làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, không còn sự tôn trọng lẫn nhau. Chị và anh D1 đã sống mỗi người một nơi từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Nay tình cảm của chị và anh D1 không còn, hôn nhân không hạnh phúc, chị đề nghị được ly hôn với anh D1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Thiên B, sinh ngày 01/9/2009 và Nguyễn Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 17/7/2012, hiện nay 02 con đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi 02 con chung, chị có đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị D khai không có.

Nợ chung: Chị D khai không có.

Các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Ngọc D1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị D đăng ký kết hôn đúng như chị D trình bày. Hôn nhân tự nguyện tiến bộ không ai bị ép buộc. Quá trình sống chung bình thường đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về tính cách, lối sống, vợ chồng hay xảy ra xích mích, đánh đập lẫn nhau. Anh và chị D đã sống mỗi người một nơi, mặc ai nấy sống từ tháng 7/2021 cho đến nay không còn tình cảm gì với nhau nữa, hôn nhân không có hạnh phúc nhưng do anh theo đạo Thiên chúa giáo nên anh không được ký vào đơn ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt anh vì mọi vấn đề giữa vợ chồng anh đã tự thỏa thuận với nhau xong.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung đúng như chị D trình bày. Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh đồng ý giao 02 con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh D1 khai không có.

Nợ chung: Anh D1 khai không có.

Tòa án đã tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/4/2022 nhưng anh D1 xin vắng mặt.

Tại phiên tòa, chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh D1 và đề nghị Tòa án cho chị được nuôi 02 con chung, chị không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Tuy nhiên về thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn chậm.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Nguyễn Ngọc D1; Giao 02 con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự khai không có nên không xem xét; Về án phí: Buộc chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Ngọc D1 có nơi cư trú tại địa chỉ số 163/4 Đinh Tiên Hoàng, phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ vào khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

. Về sự có mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Ngọc D1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo qui định pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Ngọc D1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị D và anh D1 xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về tính cách, không đồng quan điểm trong cách làm ăn kinh tế, vợ chồng thường hay xảy ra xích mích, cãi vã. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, người thân cho thấy vợ chồng chị D và anh D1 có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bất đồng trong cách làm kinh tế nên vợ chồng hay xích mích, cãi vã. Cả chị D và anh D1 đều thừa nhận đã sống mỗi người một nơi từ năm 2021 cho đến nay không ai còn tình cảm hay quan tâm gì đến nhau. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị D và anh D1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ.

. Về con chung: Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị D thấy rằng từ khi chị D và anh D1 không sống chung với nhau thì 02 con nhỏ theo chị D đi sinh sống nơi khác, các cháu được chị D chăm sóc phát triển bình thường. Nguyện vọng của các cháu cũng mong muốn được sống với chị D. Phía anh D1 cũng đồng ý giao 02 con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho con nên giao con chung Nguyễn Hoàng Thiên B, sinh ngày 01/9/2009 và Nguyễn Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 17/7/2012 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

. Về tài sản chung: Chị D và anh D1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Chị D và anh D1 đều khai không có, trong quá trình giải quyết vụ án không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.

. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56, 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Ngọc D1.

2. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Hoàng Thiên B, sinh ngày 01/9/2009 và Nguyễn Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 17/7/2012 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung: Chị D và anh D1 khai không có.

4. Về nợ chung: Chị D và anh D1 khai không có.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004748 ngày 24/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ