- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc V - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc V phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - L Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2026/HS-ST Ngày: 14-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – L Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1-Ông Trần Ngọc Đổi
2-Bà Nguyễn Thị Phương Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng-Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 13 – L Đ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – L Đ tham gia phiên
tòa: Ông Lư Ngọc Quí- Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – L Đ
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2026/TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo: Lê Quốc V (Tên gọi khác: Lượm), sinh ngày 16/02/1992 tại tỉnh L Đ.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L N, xã L S, tỉnh L Đ.
Nghề nghiê ̣p: Công nhân; Trình đô ̣học vấn: 10/12;
Dân tô ̣c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam;
Con ông Lê Ngọc D (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959
Anh, chị, em ruột: Có 02 người. Lớn nhất sinh năm 1988; bị can là con út trong gia đình.
Vợ: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1995 (đã ly hôn)
Con: chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2026 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tuy Phong (cơ sở 2) thuộc Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh L Đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quốc V, sinh năm: 1992, cư trú: thôn L N, xã L S, tỉnh L Đ là người đang trong thời gian tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo Quyết định tiếp nhận bệnh nhân điều trị Methadone ngày 22/12/2016 của Trung tâm y tế Bắc Bình (nay là Trung tâm y tế khu vực Bắc Bình) và Quyết định điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 01/QĐ- UBND ngày 24/09/2025 của Chủ tịch UBND xã L S, tỉnh L Đ. Trong thời gian tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, Lê Quốc V tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 10/01/2025, Công an xã L S mời Lê Quốc V đến trụ sở Công an để làm việc do có biểu hiện nghi vấn sử dụng chất ma túy. Qua làm việc, Lê Quốc V đã khai nhận sử dụng chất ma túy 02 lần và tự nguyện giao nộp bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho cơ quan Công an.
Lần 1: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/11/2025, khi V đang điều trị vết thương gãy xương quai xanh bên trái tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận thuộc xã Bắc Bình, tỉnh L Đ thì V lên cơn nghiện, V tìm xe ôm ở khu vực gần Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận và hỏi người chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) là “Biết chỗ nào bán ma túy không”, người chạy xe ôm này nói là “Biết” nên V thuê chở đến xã Phan Rí Cửa, tỉnh L Đ. V nhờ người đàn ông chạy xe ôm mua giùm cho V 100.000 đồng ma túy heroin, sau đó V tìm tiệm thuốc tây để mua kim tiêm. Sau khi mua kim tiêm xong thì V thuê xe ôm chở về nhà V tại thôn L N, xã L S, tỉnh L Đ. Khi về đến nhà khoảng - 14 giờ ngày 06/11/2025, V vào phòng ngủ nhà V đóng kín cửa lại và sử dụng ma túy (heroin). Sau khi sử dụng xong thì V vứt kim tiêm trong bụi cây không xác định rõ vị trí ở đâu.
Lần 2: Trước đó vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/11/2025, trong khi V đang điều trị vết thương gãy xương quai xanh bên trái tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận thuộc xã Bắc Bình, tỉnh L Đ thì V có thuê một người đần ông chạy xe ôm (không rõ lai lịch) chở V đến khu vực Cầu Nam, xã Phan Rí Cửa để mua ma túy sử dụng. V nhờ người đàn ông chạy xe ôm mua giùm cho V 01 gói ma túy đá với giá 200.000đ, sau đó V đem số ma túy trên về nhà cất giấu. Đến khoảng 20 giờ ngày 08/11/2025, V lấy ma túy ra và sử dụng tại phòng ngủ nhà V thuộc thôn L N, xã L S. Bộ dụng cụ sử dụng ma túy là do V tự làm từ một chai nhựa màu trắng cao khoảng 10cm có gắng nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp nhựa màu đỏ có khoan 02 lỗ, 01 lỗ gắn một đoạn ống hút màu tím trắng có kích thước dài khoảng 27cm, 01 lỗ còn lại gắn một đoạn ống thủy tinh được uống cong thổi phình một đầu. Sau khi sử dụng hết ma túy V cất bộ dụng cụ này vào tủ quần áo trong phòng của V.
Ngày 10/11/2025, Công an xã L S đã đưa đối tượng V đến Trung tâm y tế khu vực Bắc Bình để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả: V dương tính với Methamphetamine và Heroin. Đồng thời, tiến hành thu mẫu nước tiểu của V để trưng cầu giám định tại Phòng PC09 – Công an tỉnh L Đ.
Ngày 11/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: C6687/QĐ-CSMT đối với mẫu nước tiểu của Lê Quốc V.
Tại bản kết luận giám định số 1336/KL-KTHS ngày 14/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L Đ kết quả: Tìm thấy chất 6-MAM và Morphine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine (Heroin) tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất trong mẫu nước tiểu gửi giám định của Lê Quốc V.
Về tang vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
+ 01 (một) bình nhựa để sử dụng ma túy đá làm bằng chai nhựa màu trắng cao khoảng 10cm, có gắn nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp nhựa màu đỏ có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím trắng có kích thước dài khoảng 27cm;
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phình một đầu bên trong không chứa gì, bị ám khói màu nâu (được niêm phong trong 01 phong bì dán kín kích thước (14 x 20)cm).
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 8/11/2025 tại thôn L N, xã L S, tỉnh L Đ, tại bản kết luận giám định số 1336/KL-KTHS ngày 14/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm hiện không tìm thấy chất chuyển hóa của ma tủy Methamphetamine trong mẫu giám định. Do đó, không xem xét xử lý đối với V về hành vi nêu trên.
Đối với người đàn ông chạy xe ôm và người thanh niên bán ma túy cho Lê Quốc V để sử dụng, do V không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSLDG-KV ngày 26/3/2026, Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 13 – L Đ đã truy tố bị cáo: Lê Quốc V, về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa,
* Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) bình nhựa để sử dụng ma túy đá làm bằng chai nhựa màu trắng cao khoảng 10cm, có gắn nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp nhựa màu đỏ có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím trắng có kích thước dài khoảng 27cm;
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phình một đầu bên
trong không chứa gì, bị ám khói màu nâu (được niêm phong trong 01 phong bì dán kín kích thước (14 x 20)cm).
* Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thấy việc làm của mình là trái pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình đều tra, truy tố, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 14 giờ ngày 06/11/2025 tại thôn L N, xã L S, tỉnh L Đ, do Lê Quốc V đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện. Do đó, Cáo trạng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân khu vực 13 – L Đ truy tố bị cáo về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a là đúng người, đúng tô ̣i, đúng pháp luâ ̣t.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc khi lượng hình.
. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian quản lý sau cai nghiện là hình vi vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải tạo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:
- 01 (một) bình nhựa để sử dụng ma túy đá làm bằng chai nhựa màu trắng cao khoảng 10cm, có gắn nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp nhựa màu đỏ có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím trắng có kích thước dài khoảng 27cm;
- 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phình một đầu bên
trong không chứa gì, bị ám khói màu nâu (được niêm phong trong 01 phong bì dán kín kích thước (14 x 20)cm).
Đây là công cụ dùng vào vệc phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng,
nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc V phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2026.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự
năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) bình nhựa để sử dụng ma túy đá làm bằng chai nhựa màu trắng cao khoảng 10cm, có gắn nắp nhựa màu đỏ, bên trên nắp nhựa màu đỏ có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím trắng có kích thước dài khoảng 27cm.
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phình một đầu bên
trong không chứa gì, bị ám khói màu nâu (được niêm phong trong 01 phong bì dán kín kích thước (14 x 20)cm).
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát Công an tỉnh L Đ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - tỉnh L Đ).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hô ̣i;
Buộc bị cáo Lê Quốc V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2026).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh L Đ; - VKSND khu vực 13-L Đ; - Công an tỉnh L Đ; - THADS tỉnh L Đ; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thanh Trúc Tuyền |