- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị B, An Văn Trung - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2026/HNGĐ-ST Ngày 14-4-2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bàn Thị Huệ
2. Ông Nguyễn Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị B Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2026 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Tổ 2, phường Y, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh An Văn T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Tiểu khu 2, xã P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 17/7/2025, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị B trình bày:
Chị Lê Thị B và anh An Văn T tìm hiểu nhau và đi đến kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xã Y, thành phố Hà Nội) vào ngày 31/3/2003, việc kết hôn do hai bên tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì đến khoảng năm 2013 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về tài chính, từ đó hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Lê Thị B đề nghị Tòa án xem xét giải quyết được ly hôn với anh An Văn T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng, chị Lê Thị B và anh An Văn T có 02 con chung là cháu An Văn Ngọc H, sinh ngày 09/3/2004 và cháu An Thu T, sinh ngày 15/10/2006. Hiện nay, hai cháu đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Chị Lê Thị B không đề nghị giải quyết.
Tại biên bản xác minh lập ngày 26/01/2026 với trưởng tiểu khu 2, xã P, tỉnh Sơn La và biên bản xác minh với gia đình anh An Văn T xác định: Chị Lê Thị B và anh An Văn T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội và cùng nhau chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không còn tình cảm với nhau, hai vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Sau khi hai vợ chồng mâu thuẫn gia đình hai bên đã khuyên nhủ, động viên để chị B, anh T quay lại đoàn tụ nhưng không thành. Anh T đi làm ăn xa, thỉnh thoảng về thăm nhà xong lại đi nhưng không nói rõ với gia đình địa chỉ cụ thể ở đâu.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Lê Thị B, anh An Văn T có 02 con chung là cháu An Văn Ngọc H, sinh ngày 09/3/2004 và cháu An Thu T, sinh ngày 15/10/2006, hiện tại các cháu đã thành niên, đủ 18 tuổi.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La đã tiến hành xác minh với Công an xã Phù Yên xác định anh An Văn T có nơi thường trú là ở tiểu khu 2, xã Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Toà án nhân dân khu vực 5 – Sơn La đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định để anh Trung thực hiện quyền và nghĩa vụ, trình bày ý kiến, lấy lời khai nhưng anh Trung không có phản hồi và đều vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án.
Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 25/02/2026, anh An Văn T vắng mặt, chị Lê Thị B giữ nguyên yêu cầu, phạm vi khởi kiện, không cung cấp tài liệu chứng cứ hay có yêu cầu gì khác. Anh An Văn T không có mặt nên chị Bích đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án đã lập biên bản không hoà giải được.
Vì vậy căn cứ vào khoản 1, 4 Điều 207; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về quan hệ hôn nhân, phân chia trách nhiệm nuôi con chung đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự việc Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – chị Lê Thị B.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị B được ly hôn với anh An Văn T.
Về con chung: Các cháu An Văn Ngọc H, sinh ngày 09/3/2004 và cháu An Thu T, sinh ngày 15/10/2006, hiện nay cháu đã thành niên, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, chị Lê Thị B không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Xét về hình thức, nội dung đơn khởi kiện của chị Lê Thị B là phù hợp quy định của pháp luật. Việc khởi kiện trên thuộc trường hợp tranh chấp về Ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã Phù Yên vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B và anh An Văn T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, thành phố Hà Nội (nay là xã Y, thành phố Hà Nội) vào ngày 31/3/2003 theo đúng quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân tiến bộ, hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tài chính, từ đó vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị B và anh T đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2019 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị B đề nghị Tòa án xem xét giải quyết được ly hôn với anh An Văn T. Lời khai của chị Lê Thị B là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị B là có căn cứ bởi lẽ: Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ, bền vững. Tuy nhiên kể từ khi xảy ra mâu thuẫn chị Bích và anh Trung đã sống ly thân mỗi người ở một nơi từ khoảng năm 2019 cho đến nay và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Tòa án đã tiến hành triệu tập anh An Văn T nhiều lần nhằm mục đích hòa giải cho vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng anh T đều vắng mặt, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị B và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Hội đồng xét xử nhận thấy chị Lê Thị B với anh An Văn T có với nhau 02 con chung là cháu An Văn Ngọc H, sinh ngày 09/3/2004 và cháu An Thu T, sinh ngày 15/10/2006. Hiện tại hai cháu đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động nên chị Bích không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.
. Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị Lê Thị B không thuộc diện được miễn, giảm án phí, căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lê Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 59 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị B.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị B được ly hôn với anh An Văn T.
- Về con chung: Các cháu An Văn Ngọc H, sinh ngày 09/3/2004 và cháu An Thu T, sinh ngày 15/10/2006, hiện nay cháu đã thành niên, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, chị Lê Thị B không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lê Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự chị Bích đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai số 0000030 ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
T.M HỘI ĐỒNG XÉTXỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 – Sơn La; - Phòng THADS khu vực 5 - Sơn La; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Ngô Huyền Trang |