vanban.org

Bản án 22/2025/LĐ-PT — Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 16/01/2025 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 35; điểm b, đ khoản 1 Điều 40 và các Điều 148, 293, 300, 308, 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Sửa Bản án lao động sơ thẩm số 43/2024/LĐ-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; I. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Bà Mai Thị Minh T - Công ty Cổ phần D1"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 35; điểm b, đ khoản 1 Điều 40 và các Điều 148, 293, 300, 308, 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 22/2025/LĐ-PT
Ngày 16-01-2025
V/v tranh chấp về trợ cấp thôi việc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai

Các Thẩm phán:

Ông Cao Văn Hiếu

Bà Trần Thị Bé

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Đặng Ngọc Hoài Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16-01-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 35/2024/TLPT-LĐ ngày 25-10-2024 về việc “Tranh chấp về trợ cấp thôi việc”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 43/2024/LĐ-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 310/2024/QĐ-PT ngày 16-12-2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Minh T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Ngọc O (sinh năm 1980, địa chỉ tổ A phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) và ông Lê Thành Công D (sinh năm 1990, địa chỉ tổ D phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng); theo Giấy uỷ quyền lập ngày 24-6-2024 tại Văn phòng C1; có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần D1; Địa chỉ trụ sở: Đường số I, Khu công nghiệp H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn C (chức vụ: Phó Tổng Giám đốc Công ty); theo Giấy uỷ quyền lập ngày 19-12-2024 của Tổng Giám đốc Công ty; có mặt.

3. Người kháng cáo: Bị đơn - Công ty Cổ phần D1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tóm tắt theo bản án sơ thẩm như sau:

Nguyên đơn - bà Mai Thị Minh T trình bày tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án:

Bà Mai Thị Minh T vào làm việc tại Công ty Cổ phần D1 từ tháng 4-1992 theo Hợp đồng lao động không xác định thời hạn và chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 01-5-2015 theo Quyết định số 18/QĐ.NV ngày 01-6-2015. Tuy nhiên, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động đến nay bà Mai Thị Minh T chưa được nhận chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định. Do đó, bà Mai Thị Minh T khởi kiện yêu cầu công ty D1 phải thanh toán trợ cấp thôi việc số tiền là 20.194.500 đồng (Hai mươi triệu một trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Bị đơn - Công ty Cổ phần D1 có người đại diện theo pháp luật trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Bà Mai Thị Minh T sinh năm 1965, là công nhân của Công ty Cổ phần D1, đã làm đơn nghỉ việc từ ngày 01-5-2015.

Hiện nay Công ty Cổ phần D1 còn nợ bà T tiền trợ cấp thôi việc là 20.194.500 đồng (Hai mươi triệu một trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Từ đầu năm 2020 cho đến hết năm 2023, do ảnh hưởng của dịch Covid 19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty. Sản xuất kinh doanh đình đốn nhưng Công ty vẫn duy trì hoạt động sản xuất cầm chừng để giữ chân người lao động, kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ nhiều năm liên tục.

Dù thời gian sản xuất Công ty bị gián đoạn liên tục, sản phẩm sản xuất chỉ có được 1/4 so với bình thường, nhưng Công ty vẫn đóng Bảo Hiểm X, cố gắng tạo điều kiện để người lao động có thu nhập trong dịp cuối năm và kỳ vọng sản xuất kinh doanh Công ty sẽ phục hồi vào cuối năm. Đến tháng 02-2024 thì Công ty tạm ngừng sản xuất, dẫn đến người lao động làm đơn xin nghỉ việc để hưởng chế độ và yêu cầu trả đủ lương. Hiện nay, Công ty mới trở lại sản xuất vào tháng 05-2024 và dự kiến sẽ có nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả nợ lương cũng như các chế độ liên quan cho người lao động. Dù còn nhiều khó khăn nhưng Công ty C2 vẫn luôn có trách nhiệm đối với người lao động.

Về trợ cấp thôi việc theo khoản 6 điều 14 Nghị Định số 05/2015/NĐ-CP và khoản 7 điều 1 Nghị Định 148/2018/NĐ-CP, chi phí trợ cấp thôi việc thì doanh nghiệp đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động trong kỳ. Do tình hình hoạt động Công ty gặp rất nhiều khó khăn nên việc chi trả này đã được Công ty chi trả dần hằng năm vào cuối năm. Công ty đề nghị bà T tạo điều kiện cho Công ty trả trong vòng 02 năm, chia thành hai đợt: Ngày 01-01-2025: Trả số tiền 10.000.000đ; Ngày 30-7-2025: Trả số tiền còn lại: 10.194.500 đồng.

* Bản án lao động sơ thẩm số 43/2024/LĐ-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử:

Căn cứ Điều 32, 35, 39, 147, 227, 235, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 46, 48 Bộ luật Lao động năm 2019; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Minh T đối với Công ty Cổ phần D1 về việc “Tranh chấp về trợ cấp thôi việc”.

1. Buộc Công ty Cổ phần D1 có nghĩa vụ trả cho bà Mai Thị Minh T số tiền là 20.194.500 đồng (Hai mươi triệu một trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần D1 phải chịu 605.835 đồng (Sáu trăm lẻ năm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

* Ngày 12-9-2024, Công ty Cổ phần D1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về thời gian chi trả tiền trợ cấp thôi việc do hiện nay công ty đang tiếp tục ngừng hoạt động, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp thuận việc cho chi trả thành hai lần số tiền 20.194.500 đồng là vào tháng 01-2025 trả 10.000.000 đồng và tháng 7-2025 trả 10.194.500 đồng.

* Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự do nội dung thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nội dung thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bên đương sự đã thống nhất thỏa thuận được các nội dung sau:

Công ty Cổ phần D1 xác nhận còn nợ bà Mai Thị Minh T số tiền là 20.194.500 đồng.

Công ty Cổ phần D1 cam kết thanh toán cho bà Mai Thị Minh T thành hai phân kỳ như sau:

- Đến ngày 01-3-2025 thanh toán 10.000.000 đồng;

- Đến ngày 26-7-2025 thanh toán 10.194.500 đồng.

Trường hợp Công ty Cổ phần D1 vi phạm một trong hai phân kỳ thanh toán như trên thì bà Mai Thị Minh T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với toàn bộ số tiền còn lại chưa thanh toán.

Án phí lao động sơ thẩm Công ty Cổ phần D1 chịu.

Xét thấy những nội dung thỏa thuận của các bên đương sự như trên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự để sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên đương sự có kháng cáo là Công ty Cổ phần D1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Các đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 35; điểm b, đ khoản 1 Điều 40 và các Điều 148, 293, 300, 308, 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 46, 48 Bộ luật Lao động năm 2019;

- Khoản 8 Điều 26, Khoản 2, Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Sửa Bản án lao động sơ thẩm số 43/2024/LĐ-ST ngày 28-8-2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng;

I. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:

Công ty Cổ phần D1 xác nhận còn nợ bà Mai Thị Minh T số tiền là 20.194.500 đồng (Hai mươi triệu một trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Công ty Cổ phần D1 cam kết thanh toán cho bà Mai Thị Minh T thành hai phân kỳ như sau:

- Đến ngày 01-3-2025 thanh toán 10.000.000 đồng;

- Đến ngày 26-7-2025 thanh toán 10.194.500 đồng.

Trường hợp Công ty Cổ phần D1 vi phạm một trong hai phân kỳ thanh toán như trên thì bà Mai Thị Minh T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với toàn bộ số tiền còn lại chưa thanh toán.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí lao động sơ thẩm: Công ty Cổ phần D1 phải chịu 605.835 đồng (Sáu trăm lẻ năm nghìn tám trăm ba mươi lăm đồng).

II. Án phí lao động phúc thẩm: Công ty Cổ phần D1 phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0008796 ngày 23-9-2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ